Tài khoản

  • Giỏ hàng
  • Thanh toán
  • Tài khoản
  • Login
Giải pháp tưới tự động tối ưu trong nông nghiệp. Tưới nhỏ giọt - phun mưa - phun sương.
Tưới Nông Nghiệp Tự Động
  • Trang chủ
  • Cửa hàng
    • Tài khoản
      • Cập nhật tài khoản
      • Cập nhật địa chỉ
      • Xem đơn hàng
      • Quên mật khẩu
    • Thanh toán
  • Tưới nông nghiệp
    • Hướng dẫn lắp đặt
    • Tư vấn chọn thiết bị tưới
    • Ứng dụng mô hình tưới
    • Tin nông nghiệp
    • Câu hỏi thường gặp
  • Thư viện
    • Video
    • Catalogue
  • Liên hệ
0964 824 106 / 0917367763
Email: minhvu1014@gmail.com
All Departments
  • Tưới phun mưa
    • Béc tưới Ducar
    • Đầu tưới Rivulis
    • Béc tưới Nelson USA
    • Xe tưới tự cuốn Irrifrance
    • Béc tưới Đài Loan
    • Dây tưới phun mưa
  • Tưới nhỏ giọt
    • Dây (ống) tưới nhỏ giọt
      • Tưới nhỏ giọt DiG
      • Rivulis Israel
      • Tưới nhỏ giọt Seowon
    • Đầu tưới nhỏ giọt
    • Ống PE
    • Thiết bị lọc
    • Thiết bị châm phân
    • Phụ kiện ống PE
      • Phụ kiện ống 6mm
      • Phụ kiện ống 12mm
      • Phụ kiện ống 16mm
      • Phụ kiện ống 17mm
      • Phụ kiện ống 20mm
      • Phụ kiện ống 25mm
    • Phụ kiện tưới nhỏ giọt khác
  • Tưới cảnh quan
    • DIG USA
    • Cellfast
    • Hunter USA
  • Tưới phun sương
  • Van điện tử, bộ hẹn giờ
  • Ống nước – phụ kiện
  • Bơm nông nghiệp
0
There are 0 item(s) in your cart
    Subtotal: 0 ₫
    View Cart
    Check Out
    • Home
    • Tin nông nghiệp

    Chuyên mục

    Bài viết mới nhất

    • Chi Phí Lắp Đặt Hệ Thống Tưới Phun Mưa Cục Bộ Cho Cây Cam
    • ĐẦU TƯỚI PHUN MƯA RONDO
    • CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG MINH VŨ Tham Gia Triển Lãm Growtech
    • Kỹ thuật tưới cam
    • KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÀ CHUA TRONG NHÀ MÀNG
    • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Dưa Hấu
    • Tưới phun mưa cục bộ cho cây sầu riêng

    Tin nông nghiệp

    21 Th7

    Cần một "chiến lược" atisô

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments chiến lược phát triển cây Atiso, Hoa Atiso, kỹ thuật trồng Atiso

    Hoa atiso
    Giá atiso, chiến lược phát triển Atiso tại Lâm Đồng

    Tại Lâm Đồng trong vòng hơn một tháng qua – kể từ trận mưa đá chiều 7/5 đến nay, các loại rau Đà Lạt tăng giá vùn vụt; trong đó, atisô (vừa là cây thực phẩm và vừa là cây dược liệu) là mặt hàng được xem tăng cao bất thường nhất. Một kg bông atisô khô ở chợ Đà Lạt trước đây chỉ trên dưới 200.000 đồng thì nay đã đội lên 650.000 đồng.

    Điều đáng nói, theo quy hoạch “Dược liệu có tiềm năng khai thác và phát triển của quốc gia” thì atisô là một trong 6 dược liệu cùng với sâm Ngọc Linh, đại hồi, trinh nữ hoàng cung, quế và tràm được ưu tiên phát triển giai đoạn đầu của 40 dược liệu ưu tiên phát triển từ 2011 đến 2020.

    Ở Việt Nam, atisô được trồng chủ yếu tại Đà Lạt (Lâm Đồng) và một ít ở Sapa. Tại Đà Lạt, bởi đây là loại cây trồng đặc biệt khó tính nên vào thời hoàng kim nhất, diện tích atisô cũng chỉ đạt đến con số không quá 120ha; trong đó, tập trung ở vùng Thái Phiên của phường 12 khoảng 60ha.

    Mặc dầu đến lúc này, loại cây trồng nhập ngoại atisô có thể được xem là cây trồng truyền thống của người dân Đà Lạt nhưng trước sức cạnh tranh khá khốc liệt với các loại cây rau và hoa khác, atisô đã trở nên lép vế. Rồi nữa, với dân nhà vườn Đà Lạt, đây còn là loại cây trồng “phập phù” nhất của xứ rau hoa này.

    “Với cây atisô, thời điểm giá tăng cao không dài mà chủ yếu là thấp và kéo dài. Do vậy, nhiều nhà vườn đã phá bỏ cây atisô để trồng rau hoặc hoa công nghệ cao” – ông Hồ Ngọc Dinh, Chủ tịch Hội Nông dân phường 12 (Đà Lạt), cho biết.

    Cụ thể, tại phường 12, đến thời điểm này (lúc atisô được giá nhất), diện tích atisô chỉ còn trên dưới 40ha; nếu tính cả Đà Lạt, con số đó cũng không quá 60ha. Trồng atisô cho thu nhập thấp chỉ bằng 1/3 so với trồng rau và 1/4 so với trồng hoa là lý do để nhà vườn Đà Lạt xóa dần diện tích atisô.

    Lãnh đạo UBND TP Đà Lạt cho biết, thực hiện chương trình phát triển cây dược liệu ưu tiên của quốc gia, Đà Lạt đã quy hoạch vùng atisô từ 60ha hiện nay lên khoảng 100ha vào năm 2015. Với quy hoạch này, nhẽ ra cây atisô rất cần một cơ chế “đối đãi” đặc biệt; thế nhưng trong thực tế, giá trị của loại cây dược liệu – thực phẩm này lại phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường tự do thì đúng là chuyện rất đáng bàn!

    Theo Khắc Dũng – Báo nông nghiệp

    Read More
    01 Th7

    Sếp HADICO: Chúng ta đang có lợi thế trong việc lo cho 'cái dạ dày' nhân loại

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments

    Hơn 20 năm gắn bó với ngành nông nghiệp cùng chặng đường 38 năm của  Cty TNHH Nhà nước MTV Đầu tư và phát triển Nông nghiệp HN (HADICO), thành công có, thất bại có nhưng không thể phủ nhận được những gì ông làm cho Cty. Ông là doanh nhân VN tiêu biểu 2010 – TS Phan Minh Nguyệt – Chủ tịch HĐTV kiêm TGĐ Cty HADICO.

     hadico
    Tâm huyết với trồng rau, nuôi gà
     Xu hướng cạnh tranh trong thời gian tới của thế giới là vấn đề lương thực.
    Hadico được giao quản lý và sử dụng hơn 4 ngàn hécta nằm trên 51 xã, phường, thị trấn thuộc 3 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hòa Bình, Bắc Ninh. Kinh doanh với đầy đủ ngành nghề, nhưng trọng tâm vẫn trồng rau, nuôi lợn, gà… với những công việc mà người nông dân thực thụ vẫn làm, nhưng ở một trình độ cao mang tính nghiên cứu khoa học, chuyên nghiệp hơn.
    Riêng mảng rau, từ năm 2010, Hadico dành 91 ha đất tại Hà Nội để sản xuất rau an toàn. Quy trình trồng rau này khép kín từ khâu làm đất đến tiêu thụ, không có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, dư lượng khuẩn đường ruột. Hiện nay, Hadico mỗi ngày bán ra 5 – 7 tấn rau an toàn, mới chỉ đủ cho khối trường học, các khách sạn và bếp ăn tập thể, chứ chưa bán đại trà ra thị trường.
    Nếu mọi việc diễn ra theo dự kiến thì Hadico sẽ cung ứng khoảng 10% rau sạch cho Hà Nội. Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, nhưng sau khi được Thành phố Hà Nội chấp thuận đầu tư, dự án rau an toàn tại Đan Phượng đang được Cty ưu tiên triển khai nhằm sớm cung ứng sản phẩm rau an toàn cho người tiêu dùng Thủ đô Hà Nội.
    Ngoài ra, TS Phan Minh Nguyệt cũng chú trọng hướng Cty phát triển các sản phẩm nông sản chủ lực khác như bười Diễn, cam Canh… là các giống cây trồng và vật nuôi có chất lượng cao.
    Không chỉ mở rộng sản xuất, đầu tư mà ông còn trực tiếp chỉ đạo thực hiện các đề tài nghiên cứu cấp cơ sở như : “ Nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện quy trình điều khiển hoa Vũ Nữ và hoa Hồ Điệp ra hoa hàng loạt” hay đề tài cấp thành phố “Nghiên cứu các giải pháp công nghệ đồng bộ trong sản xuất và sơ chế một số loại rau hoa trong nhà kính tại khu công nghệ cao Hà Nội”.
    Đặc biệt, gần đây ông đã khôi phục và phát triển được giống gà mía với giá trị kinh tế cao, tránh được sự “tuyệt chủng” của giống gà nổi tiếng của mảnh đất hai Vua, Đường Lâm – Sơn Tây vốn rất quý hiếm.
    Gà mía nằm trong danh mục nguồn gen vật nuôi cần bảo tồn, thường được thả ở vườn, thịt gà có màu trắng, mỡ vàng, ăn giòn, vị ngọt đậm, thịt chắc, xương nhỏ. Trước đây, những chú gà trống đẹp, trọng lượng 5 – 6 kg thường được dân làng chọn làm lễ vật tiến vua hoặc dùng trong dịp tế lễ đầu năm.
    Nhưng cái thời nuôi gà công nghiệp nở rộ, rồi gà thải loại Trung Quốc tràn về, đẩy gà mía vào nguy cơ tuyệt chủng. Với mong muốn khôi phục lại giống gà quý, giúp người dân duy trì giống gà ngon, TS Phan Minh Nguyệt đã nghiên cứu và cho xây những lò ấp trứng gà mía ở xã Kim Sơn, Sơn Tây. Lò ấp trứng bằng điện mỗi ngày cho ra đời hàng nghìn con gà giống.
    Hiện nay, Hadico đã nâng lên thành quy mô trang trại tại xã Ba Trại, Ba Vì. Trang trại được Hadico đầu tư khá hiện đại, dự kiến cho ra thị trường mỗi tháng hàng vạn quả trứng gà mía. Bà con không còn phải lo đầu ra khi giống gà ngon, thịt thơm được nhiều người săn đón, nên lượng giống bán ra ngày một nhiều.
    Ước mơ vươn xa
    Thành công của Hadico và TS Nguyệt là thế nhưng ông vẫn khiêm tốn và lo cho nền nông nghiệp nước nhà.
    Ông cho rằng, Nhà nước phải xác định xu thế mà thế giới đang hướng tới của thế kỷ 21 không phải là thế kỷ của dầu mỏ, công nghệ thông tin mà là thế kỷ của lương thực. Với dân số tăng trưởng như hiện nay thì an ninh lương thực là vấn đề rất quan trọng. Người ta khẳng định chỉ vài chục năm nữa thế giới “đánh nhau” không phải vì dầu mỏ mà “đánh nhau” vì lương thực. Vì vậy, nhiều tập đoàn lớn đã và đang xoay sang nông nghiệp để nghiên cứu đầu tư.
    Nông nghiệp quan trọng với thế giới thì câu hỏi đặt ra với VN là chính phủ VN đã chuẩn bị như thế nào để tham gia quá trình “điều hành” thế giới với một đất nước có nhiều tiềm năng về nông nghiệp.
    Nghiên cứu chiều sâu để sau đó tạo ra được giống lúa chất lượng cao, các sản phẩm nông sản nhằm tạo thương hiệu cho nông sản VN tạo ra giá trị cao chứ không phải số lượng nhiều mà giá trị thấp. Chúng ta chưa chuẩn bị tâm thế cho đầu tư phát triển nông nghiệp, chưa có chiến lược cho sản phẩm nông sản.
    Hàng năm nhu cầu nông sản của thế giới rất cao, cụ thể như sản lượng và giá trị giao dịch gạo trên thế giới khoảng 30 tỉ USD, VN chỉ chiếm khoảng 3 tỉ USD; Rau, củ, quả thế giới có sản lượng và giá trị giao dịch khoảng 200 tỉ USD, VN chỉ đạt khoảng 1 tỉ USD. Tuy nhiên, giá trị mang lại cho người dân VN là rất nhỏ, có thể nói là “lấy công làm lãi”.
    TS Phan Minh Nguyệt nhấn mạnh : Chúng ta phải làm nông nghiệp công nghệ cao từ bây giờ để tạo ra các sản phẩm hàng hoá đồng đều, có chất lượng cao. Phải xác định được chiến lược về khoa công nghệ, đầu tư chiều sâu, có chính sách về hạn điền… Tương lai, thế giới sẽ cạnh tranh khốc liệt về lương thực. Chúng ta đang có lợi thế trong việc lo cho “cái dạ dày” nhân loại.
    Theo Xuân Sơn

    Diễn đàn doanh nghiệp

    Read More
    15 Th6

    Xây dựng một ngành nông nghiệp hiện đại

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments Nông nghiệp cơ giới hóa, nông nghiệp hiện đại

    Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng: “Tiến tới chúng ta có nền nông nghiệp được thế giới công nhận là sản xuất tốt, sạch, sản phẩm xuất khẩu có giá trị và người tiêu dùng không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới ưa chuộng, coi trọng, trân trọng hàng hóa Việt Nam”.

    Ngày 13/6, Quốc hội tiếp tục nội dung chất vấn các thành viên Chính phủ. Đầu giờ buổi sáng, các ĐBQH nghe Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Cao Đức Phát trả lời 5 câu hỏi của các ĐBQH hỏi vào cuối giờ chiều hôm trước. Tiếp đó một số câu hỏi khác của ĐBQH cũng được Bộ trưởng lần lượt trả lời một cách thấu đáo.

    Các ĐB Nguyễn Thái Học (Phú Yên); Nguyễn Thị Kim Bé (Kiên Giang); Trương Minh Hoàng (Cà Mau); Đoàn Nguyễn Thùy Trang (TP Hồ Chí Minh) chất vấn về các giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản, thúc đẩy tiêu thụ, hiện đại hóa nông nghiệp.

    Bộ trưởng Cao Đức Phát cho biết: Nâng cao cạnh tranh nông sản là mục tiêu quan trọng của quá trình hiện đại hóa nông nghiệp. Trước hết cần điều chỉnh cơ cấu sản xuất để tập trung vào những mặt hàng thế mạnh của đất nước. Đồng thời tiếp sức nông dân bằng việc tăng cường nghiên cứu và chuyển giao KHKT, nhất là về giống, xây dựng cơ sơ hạ tầng và dịch vụ đồng bộ, khuyến khích phát triển, bảo quản chế biến bằng công nghệ hiện đại đem lại giá trị gia tăng cao. Tổ chức lại sản xuất để hình thành các chuỗi kết nối người sản xuất với thị trường trong và ngoài nước.

    Nền nông nghiệp theo hướng cơ giới hóa - hiện đại hóa
    Nền nông nghiệp theo hướng cơ giới hóa – hiện đại hóa

     

    ĐB Phạm Xuân Thường và Nguyễn Thúy Hoàn (Thái Bình) chất vấn về các giải pháp đối phó với biến đổi khí hậu, hỗ trợ nông dân thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh gây ra. Bộ trưởng Cao Đức Phát khẳng định biến đổi khí hậu là vấn đề lớn của quốc gia. Hội nghị Trung ương 7 đã có nghị quyết và Bộ sẽ chỉ đạo quyết liệt thực hiện có hiệu quả. Bộ đã và đang rà soát quy hoạch thủy lợi các vùng. Trong đó có việc củng cố hệ thống đê biển. Bộ cũng đã thẩm định các phương án quy hoạch phòng chống lũ, quy hoạch đê điều của các dòng sông trên địa bàn tỉnh Thái Bình để HĐND tỉnh phê duyệt.

    ĐB Nguyễn Thái Học (Phú Yên) tiếp tục nêu câu hỏi: “Giải pháp nào để người nông dân trồng lúa có lãi tối thiểu 30% như chủ trương của Chính phủ? Bộ trưởng Cao Đức Phát trả lời chân thành, hết sức chia sẻ và rất trăn trở trước tình hình này. Chúng tôi hướng dẫn bà con tập trung vào sản xuất những cây trồng, vật nuôi có thị trường. Chỉ khi làm đúng yêu cầu thị trường thì sản phẩm làm ra mới không bị giá thấp. Bộ NN-PTNT khuyến khích nông dân hình thành các hợp tác xã, các tổ liên kết thành chuỗi sản xuất tạo ra vị thế mạnh cho nông dân trên thị trường.

    Theo phản ánh của ĐB Nguyễn Đức Hiền (Nghệ An) thì tình hình sản xuất của đồng bào TĐC công trình thủy điện còn nhiều khó khăn. ĐB Hiền hỏi Bộ trưởng đã phối hợp với Bộ Công thương để hoàn tất chính sách đặc thù cho đồng bào TĐC như chỉ đạo của Chính phủ chưa? Vấn đề thứ hai, chúng ta có thể thu hồi một phần đất của nông trường hoang hóa, lãng phí và sử dụng không có hiệu quả, cũng như là một phần đất của vùng đệm của các rừng phòng hộ, để hỗ trợ cho người dân sản xuất không?

    Bộ trưởng Cao Đức Phát cho biết là đang soạn thảo đề xuất Chính phủ ban hành chính sách mới cho đồng bào TĐC và sẽ cố gắng hoàn thành từ giờ đến cuối năm.

    Về vấn đề thiếu đất và thu hồi đất của các nông, lâm trường cũng như câu hỏi của ĐB Hà Sỹ Đồng (Quảng Trị) có liên quan đến lâm trường quốc doanh. Bộ trưởng cho biết đã hoàn tất kết quả rà soát theo NQ 28 của Bộ Chính trị và đã báo lên Ban cán sự Đảng của Chính phủ để báo cáo Bộ Chính trị.

    Theo Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình, từ năm 2008 đến nay, tín dụng cho lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn tăng trưởng khoảng 20%/năm. Trong 5 năm qua, tín dụng nông nghiệp và nông thôn đã tăng gấp 2 lần. Dư nợ tín dụng cho nông nghiệp và nông thôn đến 31/12/2012 đã đạt 561.533 tỷ đồng. Bốn tháng đầu năm nay, tín dụng của cả nền kinh tế chỉ tăng trưởng khoảng hơn 2%, trong khi tín dụng cho nông nghiệp và nông thôn tăng xấp xỉ 5%.

     

    Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng hỏi Bộ trưởng Cao Đức Phát nội dung này đến cuối năm nay có thể báo cáo Quốc hội được không? Bộ trưởng nói: “Chúng tôi sẽ báo cáo”.

    Tại phiên chất vấn, Bộ trưởng Cao Đức Phát đã trả lời 28 lượt ý kiến chất vấn của các vị ĐBQH. Chốt lại phần đăng đàn của Bộ trưởng Cao Đức Phát, Chủ tịch Quốc hội nói: “Bộ trưởng đã lần lượt trả lời một cách cụ thể tất cả các câu hỏi của ĐBQH. Vấn đề đặt ra là xây dựng đất nước cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại thì nông nghiệp cũng phải là một ngành nông nghiệp hiện đại”.

    Chủ tịch Quốc hội yêu cầu Bộ trưởng cần làm tốt công tác quy hoạch ngành để có thể phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp tốt hơn. Ngành nông nghiệp sớm trình Chính phủ chương trình tái cơ cấu tổng thể ngành để xây dựng các mô hình sản xuất. Bộ có trách nhiệm rà soát lại tất cả các cơ chế cần thiết để thắt chặt quản lý sản xuất, quản lý kinh doanh, áp dụng KHCN, nâng cao chất lượng và hiệu quả. Cần xây dựng cho được thương hiệu và phát triển thị trường bình đẳng cạnh tranh trong nông nghiệp. Tiến tới chúng ta có nền nông nghiệp được thế giới công nhận là sản xuất tốt, sạch, sản phẩm xuất khẩu có giá trị và người tiêu dùng không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới ưa chuộng, coi trọng, trân trọng hàng hóa Việt Nam, thương hiệu Việt Nam, chúng ta mới có thể xuất khẩu tốt được.

    Nước ta chưa trồng cây biến đổi gen

    Trả lời câu hỏi của ĐB Nguyễn Văn Rinh (Hải Dương), Bộ trưởng Cao Đức Phát cho biết: “Hiện nay nước ta chưa trồng các giống cây biến đổi gen, mặc dù trên thế giới đã có 28 nước trồng khoảng 170 triệu ha rồi. Bộ NN-PTNT đã chỉ đạo khảo nghiệm một số giống ngô của các Cty Syngenta, Dekalb và đang làm thủ tục công nhận kết quả khảo nghiệm để làm cơ sở cho Bộ TN-MT xem xét, cấp giấy chứng nhận an toàn sinh học.

    Chưa phát hiện nhóm lợi ích trong nông nghiệp

    Đó là khẳng định của Bộ trưởng Cao Đức Phát khi trả lời một câu hỏi rất thẳng thắn của ĐB Y Thông (Phú Yên). Theo Bộ trưởng Cao Đức Phát, Bộ NN-PTNT kiên quyết phản đối mọi hình thức nhóm lợi ích hoạt động trái pháp luật hoặc lợi dụng kẽ hở của pháp luật làm tổn hại đến lợi ích của nông dân. Trước mọi thông tin về lợi ích nhóm, tôi đều chỉ đạo phối hợp kiểm tra và có biện pháp ngăn ngừa. Cho tới nay chưa có cơ sở để xác định những nhóm như vậy trong lĩnh vực nông nghiệp.

    Trong nông nghiệp hiện đại, công nghệ tưới tự động là một trong những yếu tố then chốt. Kính mong quý bà con tham khảo và tham vấn các thiết bị tưới nông nghiệp Nelson để có những so sách và quyết định đúng đắn trong việc đầu tư hệ thống tưới.

    Read More
    13 Th6

    Bắc Bình chuyển đổi đất trồng hoa màu sang trồng cỏ nuôi bò

    Post By: NhaBeAgri 1 Comment tưới cánh đồng dứa (thơm) tự động, tưới đồng cỏ, tưới đồng mía

    Trồng cỏ nuôi bò nhốt không còn xa lạ gì với người dân nông thôn các xã vùng gò đồi huyện Cam Lộ (Quảng Trị) như Cam Thành, Cam Chính, Cam Nghĩa, nhưng với bà con nông dân thôn Bắc Bình, xã Cam Tuyền, câu chuyện chuyển đổi diện tích đất trồng hoa màu sang trồng cỏ nuôi bò vẫn là đề tài nóng hổi rất được quan tâm và trông đợi hiệu quả thiết thực mà mô hình mang lại.

    Cũng như nhiều hộ khác trong thôn, những ngày này, gia đình ông Trần Viết Hiền đang tập trung thợ để khẩn trưởng xây chuồng bò. Ông Hiền vừa trở về sau một chuyến đi dài vào tận Bình Thuận để tham quan mô hình trồng cỏ chăn nuôi bò nhốt. Vẫn vẹn nguyên cảm xúc từ chuyến đi mở mang tầm nhìn và cách làm ăn của người dân tỉnh bạn, ông hồ hởi chia sẻ: “Có đi mới thấy dân người ta làm ăn quy mô lắm. Diện tích chuồng nuôi bò của họ gấp mấy lần ngôi nhà của mình, nhà nào cũng nuôi hàng chục con trở lên, hiệu quả kinh tế lớn lắm, người nông dân sở hữu trong tay tiền tỉ là không hiếm”.

     

    Tận mắt chứng kiến cách làm của nông dân các tỉnh, ông Hiền càng thêm quyết tâm với mô hình mà mình tham gia. Không phải dễ dàng mà người dân thôn Bắc Bình chấp nhận hi sinh một phần diện tích đất trồng hoa màu truyền thống từ lâu nay để trồng các giống cỏ nuôi bò. Tháng 10/2012, khi Trường Đại học Nông lâm Huế về triển khai thí điểm mô hình trồng cỏ nuôi bò nhốt, không ít người còn e ngại về tính khả thi của dự án. Nhưng với sự mạnh dạn hưởng ứng của một số người như ông Trần Viết Bỉnh, Trần Viết Hiền, Phạm Văn Dơn… đã cùng các giáo viên trồng thử nghiệm hơn 3,5 ha cỏ các loại như cỏ voi, cỏ sả, cỏ mô- la- tô…

    Thuận lợi lớn nhất của bà con nông dân thôn Bắc Bình khi triển khai mô hình chăn nuôi bò thâm canh là bước đầu, Trường Đại học Nông lâm Huế đầu tư cho bà con giống cỏ để trồng, hỗ trợ 50% lượng thức ăn tinh cho số bò trong thời kỳ được chọn vỗ béo cũng như quy trình kỹ thuật trồng cỏ, chăm sóc bò. Hiện tổng số đàn bò toàn thôn Bắc Bình có khoảng 130 con, trong đó số bò trong thời kỳ vỗ béo là 29 con, bò sinh sản 21 con. Ngoài nguồn thức ăn là bột, cỏ trồng, bà con còn tận dụng thân cây sắn, cây ngô có sẵn làm thức ăn phụ thêm.

    Ông Phạm Văn Dơn, Phó Chủ nhiệm CLB chăn nuôi bò theo mô hình thâm canh chia sẻ: “Trước đây người dân chăn nuôi theo hình thức thả rông, hiệu quả mang lại không cao. Từ khi được nuôi nhốt, được vỗ béo một cách khoa học, bài bản, trọng lượng của bò tăng nhanh đáng kể. Bà con đã bắt đầu tin tưởng vào hiệu quả mô hình mang lại và dần dần chuyển đổi diện tích đất màu để trồng cỏ nuôi bò”.

    Giải thích thêm về kỹ thuật chăn nuôi bò theo mô hình đã được các cán bộ và sinh viên Trường Đại học Nông lâm Huế hướng dẫn, ông Dơn cho biết, về cơ bản phương pháp chăn nuôi này không có gì khó, chỉ cần bà con tuân thủ đúng theo tài liệu hướng dẫn là được. Những con bò được khoảng hai năm tuổi hoặc bò thải loại (tức là những con bò đã già không còn khả năng cày bừa sản xuất) sẽ được đưa vào diện vỗ béo tập trung. Thức ăn cho bò là thức ăn hỗn hợp gồm cỏ, trộn thêm cây chuối, cám, khoai, cám Con Cò. Tỷ lệ thức ăn mỗi ngày căn cứ vào khả năng hấp thu của bò, nếu để ý thấy phân bò nhão thì phải giảm bớt lượng thức ăn tinh bột. Nuôi bò nhốt thâm canh kết hợp với vỗ béo đem lại nhiều cái lợi thu nhập cao nhưng không tốn thời gian chăn dắt, các thành viên trong gia đình ai cũng chăm sóc được cho đàn bò, đặc biệt là nuôi bò vỗ béo rất dễ bán, giá cao. Ngoài nguồn lợi về kinh tế, bà con còn được thêm nhiều cái lợi khác như không mất đi nguồn phân bón cho các loại cây nông nghiệp; đường làng, ngõ xóm sạch sẽ, hoa màu ngoài đồng không có trâu bò thả rông phá hoại.

    Là một trong những thành viên chủ chốt của câu lạc bộ, ông Dơn băn khoăn và trăn trở nhất là cho đến hiện tại, qua hơn nửa năm đi vào hoạt động nhưng CLB vẫn chưa được xét duyệt để làm các thủ tục công nhận tư cách pháp nhân, vì vậy ít nhiều ảnh hưởng đến quá trình hoạt động. Nhiều cơ hội được các tổ chức nước ngoài hỗ trợ kinh phí để thực hiện dự án nhưng đều lở dở vì CLB không có tài khoản, con dấu và cơ sở pháp lý để tiếp nhận vốn hỗ trợ. Thêm vào đó, nhiều người dân muốn tham gia thực hiện mô hình này nhưng khó khăn về vốn để đầu tư mua bò nên hiện tại có tình trạng “cỏ thì nhiều mà bò thì ít”.

    “Mong muốn lớn nhất của các hộ dân thôn Bắc Bình là nhà nước có chính sách cho vay vốn ưu đãi để bà con có điều kiện đầu tư mua thêm bò để nuôi theo hình thức này. Bây giờ nhìn thấy hiệu quả rất khả quan đó nhưng không có điều kiện mua con giống thì bà con cũng chỉ có khả năng làm mô hình nhỏ lẻ thôi”, ông Dơn tâm tư.

    Dù mới đưa vào thử nghiệm chưa lâu nhưng sự tin tưởng của bà con thôn Bắc Bình đối với một mô hình đã được áp dụng thành công ở nhiều địa phương là rất lớn. Đối với người nông dân, một con bò bán ra đáng được coi là tài sản lớn nên việc đầu tư chăm sóc bò với giá trị kinh tế cao khiến bà con rất phấn khởi.

    Nói như ông Dơn, con cái được ăn học đến nơi đến chốn, mua được ti vi, xe máy hay thậm chí làm nhà cửa cũng trông đợi cả vào số tiền bán bò. Nay mai, có thể những đồng lạc, bãi ngô của Bắc Bình đều trở thành vùng trồng cỏ, vừa để chăn nuôi đàn bò trong thôn , vừa làm vùng nguyên liệu bán cho các nơi khác.

    Ông tỏ ra rất tin tưởng và kỳ vọng vào một tương lai tươi sáng cho người dân thôn mình, khi CLB đã đi vào hoạt động ổn định và người dân sẽ được tiếp cận nhiều hơn về khoa học kỹ thuật cũng như hướng phát triển mô hình chăn nuôi hiệu quả này. Đó có lẽ cũng là tâm nguyện và quyết tâm của những người nông dân thôn Bắc Bình, một thôn đã được công nhận là điểm sáng trong áp dụng thực hiện dự án “Thôn ứng dụng khoa học- công nghệ” của huyện Cam Lộ.

    Bài, ảnh: THANH TRÚC

    Tin gửi từ Nhà Bè agri:

    Đối với việc trồng cỏ, thì yếu tố chăm sóc bằng việc cung cấp nguồn nước đủ và kịp thời là yếu tố được xem là quan trọng nhất. Trong khi đó tưới cỏ voi, cỏ Úc theo phương pháp thủ công gặp không ít khó khăn (công nhân phải len lỏi trong cả cánh đồng để kéo vòi tưới, có thể tưới không đồng đều giữa các khu vực…). Trong khi đó, việc ứng dụng tưới tự động cho các cánh đồng cỏ đã rất phổ biến ở các nước phát triển và mang lại hiệu quả kinh tế cao: đầu tư ban đầu hợp lý, tiết kiệm chi phí nhân công, điện nước, đặc biệt luôn cung cấp đủ nước – kịp thời và đầy đủ.

    Nelson Hoa Kỳ hiện cung cấp một số sản phẩm rất phù hợp cho việc tưới đồng cỏ tự động, tưới đồng mía, hay thơm… bà con có thể tham khảo dòng béc tưới Nelson R2000WF Rotator hoặc Nelson R33 Rotator.

    Read More
    31 Th5

    Làm giàu cùng Bưởi da xanh

    Post By: NhaBeAgri 1 Comment Bưởi da xanh, tưới tự động cho bưởi da xanh

    Sáng 2.5.2013, trên Đài Truyền hình Việt Nam có đưa tin, bà con ở phía Nam trồng bưởi da xanh thu nhập từ 500-600 triệu đồng/ha. Thật là một con số tuyệt vời!

    Tôi muốn xác minh điều đó nên điện ngay cho tiến sĩ Nguyễn Minh Châu – Viện trưởng Viện Nghiên cứu cây ăn quả Miền Nam. Ông khẳng định với tôi đó là thông tin chính xác; bưởi da xanh có chất lượng cao nên được thị trường trong nước và ngoài nước đều ưa chuộng…

    Bưởi da xanh được trồng từ thời xa xưa ở xã Thạnh Tân, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Sau này, nhiều xã xung quanh cũng trồng. Kỹ sư Hoàng Lê Minh còn đưa bưởi da xanh lên tận Lạng Sơn. Ông cho tôi biết, nó cũng sinh trưởng phát triển bình thường và ra quả tốt.

    Hiện nay, bưởi da xanh được trồng nhiều nhất tại xã Mỹ Thạnh An (Mỏ Cày). Chất lượng bưởi ở đây cũng là loại ngon nhất. Nhiều chủ vườn ở các tỉnh thường về tận đây để tham quan, học hỏi và lấy giống.

    Đặc điểm dễ nhận nhất ở bưởi da xanh là khi chín, vỏ quả vẫn xanh hoặc xanh hơi vàng. Trái của chúng tròn, nặng từ 1,2-2,5kg/quả. Vỏ của nó mỏng, dễ bóc. Tép bưởi màu hồng đỏ, bó chặt và dễ tách khỏi vách múi. Mọi người thích bưởi da xanh vì nó ngọt, vị hơi mát, nhiều nước. Bưởi nói chung không kén đất trồng.

    Tuy nhiên, đất ưa thích nhất để trồng bưởi nên là loại đất có kết cấu tốt, nhiều mùn, tơi xốp, thoáng khí, tầng canh tác dày, pH trung tính, đặc biệt phải thoát nước tốt và tầng nước ngầm dưới 1,5m. Xưa nay, đất phù sa ven các sông, suối vẫn là loại đất tốt nhất để trồng bưởi.

    Bưởi ưa thích khí hậu á nhiệt đới với nhiệt độ bình quân trong năm là 20 độ C. Nó là cây ưa sáng. Yêu cầu về nước của bưởi phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Khí hậu, tuổi cây, các giai đoạn sinh trưởng khác nhau của cây… Nhìn chung, lượng nước bình quân trong năm từ 1.600 – 1.800mm là tốt.

    Nên bắt đầu trồng bưởi vào đầu mùa mưa hoặc dịp sau tết có khí hậu mát mẻ. Ta nên xếp khoảng cách giữa các cây là 6-8m. Không nên trồng quá dày làm cho tán lá xen lên nhau. Sau khi trồng phải tưới, bón thường xuyên, xen tỉa để tạo tán, làm cỏ, xới xáo đất và đặc biệt, phải phòng trừ sâu bệnh phá hoại. Sâu vẽ bùa, sâu xanh ăn lá, nhện đỏ, rầy chổng cánh, rầy mềm và đặc biệt là sâu đục vỏ trái, là những đối tượng thường xuyên hại vườn bưởi. Nếu ta quan tâm thì việc diệt chúng không khó…

    Trồng bưởi da xanh rất mau giàu!

    Chuyên gia Nguyễn Lân Hùng

    Read More
    28 Th5

    Lâm Đồng - Áp dụng VietGAP để nâng cao thu nhập

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments

    Trước nay, nhiều hộ dân trồng rau màu ở Đức Trọng đã phải chịu cảnh “Được mùa rớt giá, được giá mất mùa” và thường bị thương lái ép giá với những lý do về chất lượng sản phẩm. Từ khi áp dụng sản xuất rau sạch theo tiêu chuẩn VietGAP, chất lượng sản phẩm được đảm bảo, đầu ra ổn định và kinh phí đầu tư cũng giảm.

     

    Ứng dụng Vietgap trong sản xuất nông nghiệp công nghệ cao tại Lâm Đồng
    Ứng dụng Vietgap trong sản xuất nông nghiệp công nghệ cao tại Lâm Đồng

    Trước đây, khi trồng cà chua và cải dưa, cải thảo theo cách cũ, ông Phạm Xuân Khoa – xã Bình Thạnh – Đức Trọng thường quen bón nhiều đạm cho rau, vừa tốn kém vừa không đảm bảo an toàn lại còn ô nhiễm môi trường. Từ khi, chuyển sang trồng rau theo VietGAP, ông thấy lượng đạm bón cho rau được giảm tối đa, rau ngọt hơn và không độc hại nữa. Đặc biệt, chăm sóc rau theo quy trình VietGAP giúp giảm được 20% lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, như vậy, trừ hết chi phí, với 4 sào cà chua bi và 7 sào rau này, mỗi năm, trung bình ông Khoa thu nhập khoảng 500 triệu đồng mỗi năm, cao hơn nhiều so với khi chưa áp dụng quy trình VietGAP. Ông Phạm Xuân Khoa vui vẻ nói: “Lúc đầu, khi áp dụng quy trình VietGAP cũng gặp khá nhiều khó khăn do đã quen với phương pháp canh tác thủ công và kinh nghiệm đã lâu, nhưng theo thời gian, nhận thấy VietGAP mang lại kết quả khả quan, ít tốn công, giảm chi phí đâu tư nhưng năng suất lại cao hơn. Sau 3 năm áp dụng VietGAP đến nay, gia đình đã tiết kiệm được một khoảng chi phí khá lớnmà năng suất hiệu quả lại tăng cao”.Trên những cánh đồng rau của Đức Trọng hôm nay ta dễ dàng nhận thấy những vườn bắp cải, xà lách, pố xôi xanh mướt, những luống ớt ngọt trĩu quả được trồng theo tiêu chuẩn VietGAP. Trồng rau màu, rau sạch theo quy trình VietGAP, vừa đa dạng nông sản an toàn cung ứng cho thị trường, vừa giúp nông dân nâng cao thu nhập. Ông Lê Văn Thu – xã Tân Hội, huyện Đức Trọng cho hay, ban đầu cũng chưa biết cách ươm giống, trồng, chăm sóc ớt ngọt sao cho đúng quy trình VietGAP. Sau khi tìm đọc thêm tài liệu, sách, báo, tham gia các lớp tập huấn cũng như được sự hướng dẫn của cán bộ Phòng Nông nghiệp địa phương, đến nay, ông Thu đã thành thạo từng khâu kỹ thuật nên năng suất, mẫu mã, chất lượng sản phẩm đều tăng. Ông Thu cho biết, từ khi trồng đến tháng thứ 3, ớt ngọt cho thu hoạch với năng suất lứa đầu đạt khoảng 800kg/1000m2. Nếu chăm sóc tốt, thường xuyên tưới nước thì với diện tích ớt ngọt này có thể cho thu hoạch quanh năm với sản lượng đạt từ 1,8 – 2 tấn quả. Ông Lê Văn Thu cho biết: “Từ khi chuyển từ trồng cà phê sang trồng rau màu theo quy trình VietGAP thì thời gian cho thu nhập ngắn hơn, hiệu quả kinh tế cao hơn. Trong thời gian tới gia đình tôi tiếp tục mở rộng diện tích, chuyển từ trồng cà phê sang trồng rau màu để nâng cao thu nhập”.

    Có thể nói, VietGAP là phương thức canh tác hiện đại, đảm bảo an toàn cho người trồng cũng như sản phẩm và không gây ô nhiễm môi trường, tiết kiệm phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. Tuy nhiên, điều mà người trồng rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGap trăn trở đó là người tiêu dùng chưa phân biệt được đâu là rau an toàn, nên giá cả đôi khi chưa thực sự tương xứng với công sức mà nông dân bỏ ra. Nhiều nguồn rau không rõ xuất xứ nguồn gốc cũng “đội lốt” rau sạch của địa phương nên ảnh hưởng đến uy tín chất lượng sản phẩm. Chính vì vậy, ngành chức năng cần phối hợp với các địa phương xây dựng thương hiệu sản phẩm rau an toàn trên thị trường để nông dân yên tâm mở rộng diện tích trồng rau, tăng thu nhập. Đồng thời đẩy mạnh liên kết “4 nhà” để sản xuất, sơ chế, đóng gói sản phẩm, cung cấp cho cửa hàng, đại lý và chuỗi siêu thị rau sạch, đảm bảo giá cả ổn định, vừa đem lại lợi nhuận cao cho người sản xuất, vừa cung cấp cho người tiêu dùng những sản phẩm an toàn, hợp vệ sinh.

    DUY NGUYỄN

    Read More
    Tưới nhỏ giọt cho cây cà phê, hồ tiêu
    04 Th5

    Hơn 73% hộ nông dân tưới thừa nước cho cà phê

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments Tưới cà phê, Tưới nông nghiệp, tưới tự động

    Kết quả điều tra của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI) cho thấy có hơn 73% hộ nông dân tưới thừa nước cho cà phê.

    Hướng dẫn tưới cây cà phê
    Lượng nước tưới đủ cho cấy cà phê

    Cụ thể, mức tưới tương đối hợp lý cho cây cà phê sinh trưởng và phát triển bình thường là khoảng 400-600 lít/cây/lần tưới, nhưng trong thực tế, phần lớn hộ nông dân tưới hơn 520 lít/cây/lần tưới, thậm chí có nhiều trường hợp tưới từ 600-950 lít/cây/lần tưới. Việc tưới thừa nước đang gây nên tình trạng lãng phí nguồn nước và làm tăng chí phí sản xuất.

    Ngoài tưới quá liều lượng, có tới 30% hộ nông dân xác định thời điểm tưới lần đầu chưa chính xác nên tỷ lệ hoa nở lần đầu không cao, thường thấp hơn 70%.

    WASI cho rằng, các nhà khoa học, cơ quan khuyến nông, cán bộ kỹ thuật cần quan tâm giúp nông dân tưới nước cho cà phê đúng thời điểm hơn, qua đó góp phần sử dụng nguồn nước hiệu quả, bảo vệ môi trường sinh thái và giảm chi phí sản xuất.

    Theo Lê Ngọc (Báo Đắk Lắk)

    Read More
    14 Th4

    Mô hình tưới phun mưa cho cây chè đạt hiệu quả

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments

    Theo ông Nguyễn Chính Cương, Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi Lào Cai, việc thí điểm xây dựng thành công mô hình tưới phun mưa cho cây chè tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Chè Phong Hải đang được nhân rộng nhằm phục vụ chiến lược sản xuất hàng hóa cây trồng cạn trong thời gian tới của tỉnh Lào Cai.

    Vốn đầu tư hệ thống tưới cho 1ha chè khoảng 40 triệu đồng, năng suất chè búp tươi từ 10-12 tấn/ha/năm, phần giá trị tăng thêm kể cả tiết kiệm chi phí nhân công đạt xấp xỉ 20 triệu đồng/ha/năm.

    Trong khi đó, chi phí tiền điện không đáng kể, với mỗi ha chè cần tưới từ 15-20 lần/năm, mỗi lần 4-8 giờ, chi phí hết khoảng 3-4.000 đồng/lần. Sau 3 năm có thể thu hồi vốn đầu tư.

    Năm 2010, từ nguồn vốn đầu tư của Chương trình hỗ trợ phát triển nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2007-2012 do Cơ quan phát triển quốc tế Đan Mạch (DANIDA) tài trợ, Chi cục Thủy lợi thực hiện thí điểm tưới phun mưa cho cây chè tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Chè Phong Hải, huyện Bảo Thắng, trên diện tích tưới là 2,1ha, kinh phí 300 triệu đồng.

    tưới tự động
    Tưới chè bằng công nghệ tuới phun mưa tự động

    Chi cục Thủy lợi đã phối hợp với Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Chè Phong Hải, Phòng Kỹ thuật (Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), Phòng Kinh tế huyện Bảo Thắng, Ủy ban Nhân dân thị trấn Phong Hải xây dựng mô hình.

    Việc ứng dụng hệ thống tưới này đã mang lại nhiều lợi ích thiết thực. Người trồng chủ động nước tưới theo đúng thời vụ và yêu cầu của cây chè, khắc phục được kỹ thuật tưới nước cho vùng đồi, nơi khan hiếm nước, không áp dụng được các biện pháp tưới thông thường bằng kênh dẫn.

    Phương pháp tưới phun mưa còn chủ động và nâng cao hiệu quả phân bón được hòa tan, ngấm ngay xuống đất, giảm khả năng thăng hoa của phân đạm, tăng khả năng hấp thụ của cây trồng.

    Phương pháp này tiết kiệm chi phí nhân công trong việc gánh nước, phun thuốc bảo vệ thực vật, vận chuyển phân vi sinh dạng lỏng.

    Đặc biệt, tưới phun mưa giúp tăng số lứa hái, tăng số lượng và chất lượng chè trong mỗi đợt hái khoảng 30-50%. Người trồng chè có thêm chè vụ đông – giá bán thường cao hơn vào dịp Tết, nâng cao hiệu quả kinh tế.

    Theo ông Nguyễn Đắc Thủy, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, kiêm Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Chè Phong Hải, từ khi áp dụng hình thức tưới phun mưa, năng suất chè của nông trường tăng đáng kể, chi phí đầu tư lại giảm nên người trồng chè rất phấn khởi.

    Việc tưới chè chủ yếu được thực hiện trong mùa khô, một năm thực hiện 17-20 đợt tưới, mỗi đợt tưới tối đa 60m3/ha, thực hiện trong 1-2 ngày, 4-8 giờ/ngày ùy theo tình hình độ ẩm đất, tính quy đổi thời gian tưới trong một năm là khoảng 160 giờ.

    Vì vậy, việc kết hợp công trình tưới với công trình cấp nước là rất hợp lý, đảm bảo phát huy hiệu quả tổng hợp nguồn tài nguyên nước, đỡ tốn kém năng lượng bơm, hệ thống được quản lý liên tục, đây là mô hình đang được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn khuyến khích xây dựng.

    Lào Cai hiện có gần 4.000ha chè. Từ nay đến 2015, diện tích có thể tăng gần gấp đôi. Việc áp dụng tưới biện pháp tưới dưỡng không chỉ góp phần giảm sức lao động, nâng cao năng suất và sản lượng chè mà còn đảm bảo chất lượng, hạ giá thành sản phẩm chè, có lợi cho cả nhà sản xuất lẫn người tiêu dùng.

    Theo vietnam+

    Read More
    13 Th4

    Cà phê Tây nguyên "khát nước"

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments

    Tưới nước cho cây cà phê

    Những ngày này, cây cà phê ở các tỉnh Tây Nguyên đang bước vào giai đoạn tưới nước đợt 2. Tuy nhiên, mực nước ở các sông, hồ, giếng… xuống rất thấp, kênh, suối cạn trơ đáy, khiến nhiều diện tích cà phê lâm cảnh khát nước.

    Lao đao vì thiếu nước

    Cây cà phê héo đi do thiếu nước tưới
    Thiếu nước cà phê trầm trọng cho cà phê tây nguyên những tháng đầu năm 2013.

    Mặc dù những ngày qua, nắng nóng không gay gắt nhưng nguồn nước tại các sông, hồ, đập… cũng khan hiếm hơn so với cùng kỳ năm trước, vì vậy người dân đang tất bật tìm đủ mọi phương cách cứucà phê. Tỉnh Đăk Lăk có 643 công trình thủy lợi lớn nhỏ, trong đó 516 hồ chứa, 81 đập dâng, 45 trạm bơm, 1 hệ thống đê bao, với năng lực tưới hằng năm trên 25.000 ha lúa ĐX, gần 39.000 ha lúa mùa, 45.000 ha cà phê cùng hàng ngàn ha hoa màu các loại, song nguồn nước mới chỉ đáp ứng cho hơn 72% diện tích cây trồng trong tỉnh.

    Anh Bùi Văn Nghĩa ở xã Ea Tân, huyện Krông Năng cho biết, sau khi tập trung tưới xong đợt 1 thì hầu hết các đập chứa nước như Yên Khánh, Ea Đinh, Ea Chiên, mực nước đã vơi đi phân nửa. Do mùa khô, các mạch nước ngầm giảm mạnh không kịp bù lại số lượng đã mất nên trong đợt 2 này, nhiều diện tích cà phê không còn đủ nước tưới.

    Được biết, mỗi niên vụ người trồng cà phê phải tưới từ 3 – 4 đợt (cách nhau từ 20 – 25 ngày/đợt), nên nỗi lo trước mắt là nếu tình trạng này tiếp diễn thì những đợt tưới sau sẽ thực sự là vấn đề nan giải. Theo tính toán để đào và khoan được một giếng phải đầu tư 30 – 40 triệu đồng, chi phí chạy máy tưới cho 1 ha cà phê trong 1 đợt chi phí khoảng 4 triệu đồng tiền mua dầu. Không những thế, nhiều hộ không đủ điều kiện mua máy bơm nước mà phải đi thuê thì chi phí lại càng lớn hơn nhiều.

    Tại tỉnh Đăk Nông, tính đến cuối tháng 12/2012, các địa phương trong tỉnh đã gieo trồng được gần 5.000 ha cây trồng vụ ĐX trên tổng số hơn 10.000 ha theo kế hoạch. Ngoài nhiều diện tích cây trồng ngắn ngày cần nguồn nước tưới từ các công trình thủy lợi, toàn tỉnh còn hàng nghìn ha cây trồng lâu năm như cà phê, hồ tiêu ở các huyện Ðak Mil, Chư Jút, Krông Nô… cũng cần nước.

    Những vùng có diện tích cà phê lớn như Đăk Song, Tuy Đức, Đăk Mil, Chư Jút… nhiều hộ nông dân đang tất bật tưới nước chống hạn cho cây cà phê. Ngoài công trình thủy lợi Đak Goun, trên địa bàn huyện Đak Mil còn có rất nhiều hồ chứa, công trình thủy nông khác cũng có khả năng không đáp ứng đủ nước cho cây trồng như công trình Đắk Ken, Vạn Xuân (thị trấn Đăk Mil), Đak Loou (xã Đăk Lao)…

    Ông Lê Văn Sáu ở xã Đăk N’Drót (Đăk Mil) lo lắng: “Những năm trước, lượng nước tại công trình thủy lợi Đăk Goun rất dồi dào và cho đến tận cuối mùa khô mới cạn. Vậy mà bây giờ, người dân ở đây mới tưới đợt 2 mà mực nước đã xuống rất thấp. Nếu thời tiết gay gắt thêm nữa thì 2 đợt tưới còn lại không biết lấy nước ở đâu?”.

    Theo Phòng NN-PTNT huyện Đak Mil thì tình trạng một số hồ, đập trên địa bàn không tích đủ nguồn nước sẽ khiến cho 221 ha cà phê có nguy cơ thiếu nước vào cuối vụ. Các công trình thủy lợi chỉ đáp ứng tưới khoảng 20.000 ha cà phê, như vậy, còn hơn 56.000 ha cà phê còn lại người dân phải chủ động lấy nước tưới từ giếng khoan, sông, suối…

    So với năm 2006, mực nước ngầm trong khu vực đã sụt giảm khoảng 3 – 5 m. Với độ sâu 40 m, giếng khoan của nông dân trước đây có thể cung cấp đủ nước tưới 2 – 3 ha cà phê, nhưng nay lượng nước không đủ tưới 1 ha.

    Gian nan chống hạn cho cà phê

    Để khắc phục khó khăn về nguồn nước tưới cho cà phê, bảo đảm cây không bị khô héo và rụng quả, các địa phương đã huy động người dân tăng cường bơm nước tại trạm bơm để kịp thời cho nhu cầu tưới của bà con, đồng thời nạo vét kênh, mương và hồ chứa để trữ nước; phân chia, điều tiết lịch bơm để bảo đảm cho các sông, hồ, đập không bị kiệt nước; hướng dẫn nông dân thực hiện các biện pháp giữ ẩm cho cây…

    Hiện người trồng cà phê ở các tỉnh Tây Nguyên vẫn có thói quen tưới nhiều lần trong một mùa khô, khối lượng nước cho mỗi lần lên tới 600 – 700 lít/gốc, gây lãng phí lên tới 300 – 400 lít/gốc. Ông Lê Rế, Phó trưởng phòng NN-PTNT huyện Krông Năng (Đăk Lăk) cho biết: Với diện tích của huyện gần 26.000 ha cà phê thì đến nay đã có trên 8.000 ha thiếu nước trầm trọng, việc tưới chủ yếu dựa vào nguồn nước từ các sông, hồ, suối và giếng nhưng nhiều nơi cũng đã cạn kiệt.

    Trước thực tế trên, huyện đã chỉ đạo các địa phương vận động người dân tiết kiệm nguồn nước, đồng thời, tập trung đẩy mạnh các biện pháp khắc phục phù hợp với từng địa bàn như đào thêm giếng, nạo vét kênh mương…

    Hiện Sở NN-PTNT các tỉnh thường xuyên chỉ đạo các địa phương hướng dẫn, vận động người dân tiết kiệm nguồn nước, tập trung đẩy mạnh các biện pháp khắc phục nhằm hạn chế thấp nhất những thiệt hại do hạn hán gây ra.

    Theo Báo nông nghiệp.

    Read More
    13 Th4

    Xây dựng đề án Khu Nông nghiệp công nghệ cao Phú Yên

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments

    Tại Thông báo 118/TB-VPCP, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đồng ý đề nghị của tỉnh Phú Yên và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc xây dựng Đề án thành lập Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Phú Yên nằm trong quy hoạch tổng thể khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao cả nước.

    Phó Thủ tướng lưu ý, tỉnh Phú Yên cần tham khảo, rút kinh nghiệm về tổ chức, hoạt động của Khu nông nghiệp công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh và Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Hậu Giang để hoàn thiện Đề án, thực hiện tổ chức quản lý, đầu tư, hoạt động hiệu quả, có cách làm phù hợp với đặc thù, điều kiện sản xuất nông nghiệp của Tỉnh và vùng.

    Phó Thủ tướng giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, các Bộ liên quan khẩn trương thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ Quyết định thành lập và quy chế hoạt động của Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Phú Yên; trình Quy hoạch tổng thể khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao cả nước vào cuối quý III năm 2013.

    Khi xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các Bộ liên quan cần nghiên cứu đề xuất về phân cấp thẩm quyền phê duyệt quy hoạch chung xây dựng đối với từng khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và nguyên tắc, cơ cấu đầu tư tài chính để tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương thực hiện.

    Theo báo điện tử / Chính phủ.

    Read More
    • Prev
    • 1
    • 2
    • …
    • 35
    • 36
    • 37
    • 38
    • Next

    VẬN CHUYỂN

    Toàn quốc

    KHUYẾN MẠI

    & Quà tặng

    LIÊN HỆ

    0917 367 763

    UY TÍN

    & Chất lượng

    Cửa hàng

    • Hướng dẫn lắp đặt
    • Hỏi đáp
    • Ứng dụng mô hình tưới
    • Tin nông nghiệp
    • Tuyển dụng
    • Catalogue
    • Tin Nông Nghiệp
    • Ứng Dụng Mô Hình Tưới
    • Tuyển dụng
    • Tưới nông nghiệp
    • Thư viện
    • Giới thiệu

    Thông tin

    • Giới thiệu
    • Tin tức
    • Đội ngũ nhân viên
    • Làm đại lý phân phối
    • Chúng tôi đại diện cho
    • Liên hệ

    Hỗ trợ

    • Giao nhận hàng hóa
    • Thanh toán
    • Hướng dẫn mua hàng
    • Trả & đổi hàng
    • Chính sách bảo hành
    • Chính sách bảo mật thông tin

    Tài khoản

    • Giới thiệu
    • Video
    • Liên hệ
    • Tưới phun mưa
    • Tưới nhỏ giọt
    • Tưới cảnh quan
    • Tưới phun sương

    LIÊN HỆ MINH VŨ CO., LTD

    • 85. Nguỵ Như Kon Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
    • Email : minhvu1014@gmail.com
    • Điện thoại : 04 322 168 01

    CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG MINH VŨ

    © 2013-2017 All Rights Reversed.

    Close
    Sign in Or Register
    Forgot your password?

    NEW HERE?

    Registration is free and easy!

    • Faster checkout
    • Save multiple shipping addresses
    • View and track orders and more
    Create an account
    X
    • Menu
    • Categories
    • Trang chủ
    • Cửa hàng
      • Tài khoản
        • Cập nhật tài khoản
        • Cập nhật địa chỉ
        • Xem đơn hàng
        • Quên mật khẩu
      • Thanh toán
    • Tưới nông nghiệp
      • Hướng dẫn lắp đặt
      • Tư vấn chọn thiết bị tưới
      • Ứng dụng mô hình tưới
      • Tin nông nghiệp
      • Câu hỏi thường gặp
    • Thư viện
      • Video
      • Catalogue
    • Liên hệ
    • Tưới phun mưa
      • Béc tưới Ducar
      • Đầu tưới Rivulis
      • Béc tưới Nelson USA
      • Xe tưới tự cuốn Irrifrance
      • Béc tưới Đài Loan
      • Dây tưới phun mưa
    • Tưới nhỏ giọt
      • Dây (ống) tưới nhỏ giọt
        • Tưới nhỏ giọt DiG
        • Rivulis Israel
        • Tưới nhỏ giọt Seowon
      • Đầu tưới nhỏ giọt
      • Ống PE
      • Thiết bị lọc
      • Thiết bị châm phân
      • Phụ kiện ống PE
        • Phụ kiện ống 6mm
        • Phụ kiện ống 12mm
        • Phụ kiện ống 16mm
        • Phụ kiện ống 17mm
        • Phụ kiện ống 20mm
        • Phụ kiện ống 25mm
      • Phụ kiện tưới nhỏ giọt khác
    • Tưới cảnh quan
      • DIG USA
      • Cellfast
      • Hunter USA
    • Tưới phun sương
    • Van điện tử, bộ hẹn giờ
    • Ống nước – phụ kiện
    • Bơm nông nghiệp