Tài khoản

  • Giỏ hàng
  • Thanh toán
  • Tài khoản
  • Login
Giải pháp tưới tự động tối ưu trong nông nghiệp. Tưới nhỏ giọt - phun mưa - phun sương.
Tưới Nông Nghiệp Tự Động
  • Trang chủ
  • Cửa hàng
    • Tài khoản
      • Cập nhật tài khoản
      • Cập nhật địa chỉ
      • Xem đơn hàng
      • Quên mật khẩu
    • Thanh toán
  • Tưới nông nghiệp
    • Hướng dẫn lắp đặt
    • Tư vấn chọn thiết bị tưới
    • Ứng dụng mô hình tưới
    • Tin nông nghiệp
    • Câu hỏi thường gặp
  • Thư viện
    • Video
    • Catalogue
  • Liên hệ
0964 824 106 / 0917367763
Email: minhvu1014@gmail.com
All Departments
  • Tưới phun mưa
    • Béc tưới Ducar
    • Đầu tưới Rivulis
    • Béc tưới Nelson USA
    • Xe tưới tự cuốn Irrifrance
    • Béc tưới Đài Loan
    • Dây tưới phun mưa
  • Tưới nhỏ giọt
    • Dây (ống) tưới nhỏ giọt
      • Tưới nhỏ giọt DiG
      • Rivulis Israel
      • Tưới nhỏ giọt Seowon
    • Đầu tưới nhỏ giọt
    • Ống PE
    • Thiết bị lọc
    • Thiết bị châm phân
    • Phụ kiện ống PE
      • Phụ kiện ống 6mm
      • Phụ kiện ống 12mm
      • Phụ kiện ống 16mm
      • Phụ kiện ống 17mm
      • Phụ kiện ống 20mm
      • Phụ kiện ống 25mm
    • Phụ kiện tưới nhỏ giọt khác
  • Tưới cảnh quan
    • DIG USA
    • Cellfast
    • Hunter USA
  • Tưới phun sương
  • Van điện tử, bộ hẹn giờ
  • Ống nước – phụ kiện
  • Bơm nông nghiệp
0
There are 0 item(s) in your cart
    Subtotal: 0 ₫
    View Cart
    Check Out
    • Home
    • Tin nông nghiệp

    Chuyên mục

    Bài viết mới nhất

    • Chi Phí Lắp Đặt Hệ Thống Tưới Phun Mưa Cục Bộ Cho Cây Cam
    • ĐẦU TƯỚI PHUN MƯA RONDO
    • CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG MINH VŨ Tham Gia Triển Lãm Growtech
    • Kỹ thuật tưới cam
    • KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÀ CHUA TRONG NHÀ MÀNG
    • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Dưa Hấu
    • Tưới phun mưa cục bộ cho cây sầu riêng

    Tin nông nghiệp

    Làng tỷ phú cam sành

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments giống cam sành, kỹ thuật trồng cam sành, kỹ thuật tưới cho cây cam, Làng tỉ phú cam sành

    Từ chợ thị trấn Ngã Sáu đi về ấp văn hóa Đông Bình, xã Đông Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang, chỉ còn cách trở bến đò Đông Sơn qua sông xáng Mái Dầm nữa thôi là có thể sắm xe ô tô chạy bon bon về tới cuối xóm.

    Nhiều nhà vườn ở ấp Đông Bình từng ao ước như vậy. Đó là sự thật trong tầm tay khi mai kia có chiếc cầu mới bắc qua sông đi về xứ sở của “vương quốc” cam sành. Về đây đi tới đâu cũng thấy vườn cây xanh rì, trĩu quả. Chỉ trong 10 năm qua, nhà tường mái ngói đỏ au liên tiếp mọc lên nhờ vườn cam cho trái ngọt.

    Trồng cam xây nhà mới

    Nhà vườn Út Uông (Nguyễn Văn Uông) nhớ lại: Cách đây 15 năm trước, bà con ở ấp còn nghèo, lam lũ lắm. Đường sá lầy lội, gian nan. Nhưng ngày nay trên mảnh đất này đã đổi thay 100%.

    Trên con đường láng nhựa phẳng phiu từ bến đò Đông Sơn đến Bưng Cây Sắn dài chừng 7 cây số, hai bên đường toàn là nhà tường mái tôn, mái ngói và chỉ hiếm hoi sót lại vài ba căn nhà lá, vách ván, tinh tươm, sạch sẽ.

    Làng tỉ phú cam sành
    Làng tỉ phú cam sành

    Vườn cam của ông Nguyễn Văn Uông, mỗi năm cho thu nhập trên 1,2 tỷ đồng

    Ngạc nhiên hơn, có đoạn liền một dãy ba ngôi nhà mới vừa xây xong, tường sơn trắng phau, mái lợp ngói màu đỏ, xanh lấp lóa. Ông Hồ Văn Bi là chủ nhân trẻ của một trong ba căn nhà mới đang cùng mấy người thợ hồ láng mặt sân trước nhà.

    Nhà cất xong, ông Bi không giấu nổi niềm vui: “Nhà mới xây tốn gần 1 tỷ đồng là từ mùa cam vừa thu hoạch. Nhà tôi có 21 công vườn (2,1 ha) cam sành. Nhờ tôi biết cách trồng cam cho trái ngon, nghịch vụ bán được giá cao nên chỉ cần 4 công đầu thu hoạch, bán được 800 triệu đồng, xem như gần đủ”.

    Thật ra theo ông Bi, mấy năm qua dân nhà vườn trong xóm trồng cam dành dụm tích lũy dư sức lo chuyện chi xài, cho con học hành, mua sắm tiện nghi trong gia đình và có thể tự lực xây nên ngôi nhà hằng mơ ước. Nhà anh Ba, chú Tư Liêm lân cận có lắp máy điều hòa. Cả ba nhà đều xây cổng vào nhà uy nghi, hoành tráng.

    Tuy nhiên, ông Bi thừa nhận rằng: “Chỉ từ khi chính quyền xã Đông Phước cho tiến hành xây đê bao ngăn lũ, rồi cán bộ nông nghiệp về làng hướng dẫn kỹ thuật giúp cho cây cam sành “lên ngôi”. Phần lớn bà con trồng cam trong ấp đều đổi đời. Và khi nhà vườn có thu nhập khá, việc đóng góp cho địa phương làm đường làng, cầu cống đi lại làm ăn dễ dàng, an ninh trật tự xóm ấp bình an”.

    Thế nhưng nhà vườn trồng cam thắng được là nhờ thị trường tiêu thụ có giá. Nhiều nông dân cho biết, liên tục 3 năm qua, giá cam sành ở mức khá cao. Nhà vườn Đặng Văn Hiệp tính toán: Nếu cam 6.000 đ/kg, sau khi trừ chi phí vật tư nông nghiệp, nhân công chăm sóc, thu hoạch… chủ vườn hòa vốn. Riêng năm nay vào thời điểm này bán được tới 17.500 đ/kg, mức lãi làm nức lòng các chủ nhà vườn.

    Đặc biệt nếu trồng cam cho trái nghịch vụ, có năm giá bán tăng lên 25.000 – 30.000 đ/kg. Nhờ đó nhà vườn phấn khích, mạnh tay đầu tư phân, thuốc BVTV và dốc công sức chăm sóc để tăng thêm thu nhập.

    Vườn cam bạc tỷ

    Nằm bên dòng sông Hậu được phù sa bồi đắp, huyện Châu Thành là một trong những địa phương được xem có vùng đất trồng cây có múi thích hợp và mang lại hiệu quả cao. Khách phương xa về miền Tây từng nghe danh tiếng bưởi Năm Roi Phú Hữu, cam sành Đông Phước hay gần đây vừa nổi lên chanh không hạt Đông Thạnh…

    Đặc biệt ở xã Đông Phước có nhiều nhà vườn nhạy bén chuyển đổi, lựa chọn giống cây trồng tốt hình thành nên những vườn cam chuyên canh. Trong đó riêng ấp Đông Bình có 276 nông hộ nhưng có hơn 90% hộ trồng cam sành có tiền tỷ trong tay.

    Nhà vườn Phan Văn Năm, một trong những người tiên phong đưa cây cam sành về trồng ở ấp Đông Bình. Ông Năm miệt mài chăm bón và kết quả không phụ công người. Vườn cam của ông mang lại hiệu quả cao nhất, mỗi năm thu nhập trên 2 tỷ đồng. Nhưng kinh nghiệm cho thấy thu lợi nhuận cao nhất nhờ cam thu mùa nghịch từ tháng 2 đến tháng 6.

    Theo đó nhà vườn Út Uông có tiếng SX giỏi, thành công nhờ cải tạo 3 ha vườn tạp chuyển sang chuyên canh cam sành. Vườn cam của ông luân phiên gồm nhiều lứa, từ vườn 2 năm tuổi đến 7 năm tuổi. Mỗi năm Út Uông thu nhập 400 – 500 triệu đ/năm.

    Hiện một số nhà vườn tốt bụng, không giấu nghề như ông Phan Văn Năm, Út Uông… ra sức vận động bà con nông dân thành lập Câu lạc bộ làm vườn số 2. Đây là nơi tạo điều kiện cho nhiều nông dân trong xóm ấp có dịp ngồi lại trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm lập vườn, SX hiệu quả.


    Thương lái thu mua cam sành ở Châu Thành – Hậu Giang

    Ông Lê Quang Đỉnh, Phó Chủ tịch Hội Nông dân xã Đông Phước nói: Nhờ tham dự các lớp tập huấn kỹ thuật do Phòng NN-PTNT huyện Châu Thành tổ chức nên nhiều nhà vườn mạnh dạn áp dụng TBKT vào SX. Như ông Phan Thanh Sơn chỉ có 3,5 công vườn, nhưng mỗi năm lãi trên 75 triệu đồng.

    Hay ông Đặng Văn Hiệp biết xử lý cho cây ra hoa theo ý muốn, trên 1,2 ha vườn cam cho trái quanh năm. Cứ mỗi tháng hái trái một lần, nhất là vào mùa nghịch mỗi đợt thu hoạch từ 3 – 4 tấn, lợi nhuận cao gấp 2, 3 lần mùa thuận. Hiệu quả mỗi năm, sau khi trừ chi phí ông còn lãi gần một tỷ đồng.

    Ông Nguyễn Văn Trương, Phó phòng NN-PTNN huyện Châu Thành cho biết: Hiện diện tích vườn cam sành chuyên canh toàn huyện là trên 4.000 ha. Trong đó tập trung nhiều nhất ở xã Đông Phước với hơn 1.000 ha.

    Huyện thường xuyên phối hợp với xã mở các lớp tập huấn yểm trợ kỹ thuật; đồng thời tổ chức cho nông dân tham quan các mô hình trồng cam sành hiệu quả ở nhiều nơi nhằm giúp bà con nâng cao hiểu biết về đặc tính của cây trồng. Tuy nhiên để cam sành trở thành cây trồng chủ lực và SX bền vững, các nhà vườn nên chọn cây giống sạch bệnh, trồng và chăm sóc đúng theo quy trình kỹ thuật.

    Theo Phòng NN-PTNT huyện Châu Thành, hạch toán kinh tế vườn cho thấy: Trồng cam sành thu nhập cao sau 2 năm cho trái, với giá 15.000 – 17.000 đ/kg, lãi trên 800 triệu đ/ha/năm, thời gian cây cho hiệu quả từ 3 – 5 năm; trồng bưởi Năm Roi giá 20.000 đ/kg, bưởi da xanh 35.000 đ/kg, lãi 500 – 600 triệu đ/ha/năm và thời gian cây trồng cho hiệu quả có thể kéo dài trên 20 – 30 năm.


    BÁO NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

    Read More
    Mở rộng diện tích trồng Lan tại Bình Chánh
    23 Th8

    Hội Nông dân xã nhân rộng vườn lan

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments Trồng Lan cắt cành, trồng Lan tại Bình Chánh, vườn lan

    Với ưu thế chỉ cần diện tích sản xuất nhỏ nhưng lợi nhuận gấp 12 lần trồng lúa, nên đến nay TP. HCM đã phát triển được trên 200ha trồng lan.

    Để giúp hội viên có vốn đầu tư, tiêu thụ sản phẩm, Hội ND xã Quy Đức, huyện Bình Chánh đã vận động các hộ trồng lan thành lập tổ hợp tác (THT).

    Mở rộng diện tích trồng Lan tại Bình Chánh
    Trồng Lan cắt cành mang lại hiệu quả kinh tế cao.

    Ông Ngô Hoàng Long – Chủ tịch Hội ND xã Quy Đức cho biết, thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng nông nghiệp đô thị của thành phố, năm 2012, Hội ND xã lập dự án vay vốn ưu đãi theo Quyết định 36 của UBND thành phố, thành lập THT trồng hoa lan gồm 13 thành viên, với diện tích 2ha.

    Không sợ tư thương ép giá

    THT chủ yếu trồng lan cắt cành, gồm các loại như: Dendrobium, Mokara, Catleya, Phalaenopsis. Đây là các loại lan cho lợi nhuận cao, trung bình trồng 1.000 cây cho thu 500.000 đồng/tháng, tháng cao điểm thu khoảng 1 triệu đồng. Theo ông Nguyễn Văn Hùng- Tổ trưởng THT trồng lan xã Quy Đức, hoa lan cắt cành từ lúc trồng đến lúc thu hoạch là 5 tháng, năng suất cao nhất trong 2 năm đầu, sau đó giảm dần phải trồng lại. Theo kinh nghiệm của ông Hùng, đầu tư ban đầu cho 1.000m2 trồng lan phải mất 500 triệu đồng, nhờ vay được vốn ưu đãi theo Quyết định 36 ông mới dám phát triển vườn lan.

    Ông Hùng cho biết thêm, ngoài đầu tư ban đầu, trồng lan cắt cành chủ yếu là bỏ công chăm sóc, chi phí chỉ khoảng 10%, sau 15 tháng là thu hồi vốn, sau đó bán được bao nhiêu là lãi bấy nhiêu. Nhờ thành lập THT, nên các thành viên có sự liên kết về giá cả, đảm bảo đầu ra vững vàng, không bị tư thương ép giá. Từ ngày thành lập THT đến nay, hầu hết các thành viên trồng lan có thu nhập ổn định, nhiều hộ thu nhập khá cao.

    Phù hợp với nông nghiệp đô thị

    Ông Hùng cho biết, ông trồng 40.700 cây lan cắt cành và lan chậu trên diện tích 2.000m2, trừ chi phí bình quân hàng tháng, ông lãi trên 30 triệu đồng. Ông đang dự định vay thêm vốn, đầu tư để mở rộng vườn trồng lan cắt cành. Ông Hùng chia sẻ: “Tôi sẽ đầu tư mở rộng thêm 500m2 vườn trồng lan cắt cành. Thu nhập của người dân thành phố ngày càng được cải thiện nên nhu cầu chơi hoa lan ngày một tăng. Hiện nay, lan của tôi không đủ cung ứng cho khách hàng…”.

    “Tôi sẽ đầu tư mở rộng thêm 500m2 vườn trồng lan cắt cành. Thu nhập của người dân thành phố ngày càng được cải thiện nên nhu cầu chơi hoa lan ngày một tăng. Hiện nay, lan của tôi không đủ cung ứng cho khách hàng…”.
    Ông Nguyễn Văn Hùng

    Gia đình chị Nguyễn Ngọc Hạnh ở gần nhà ông Hùng cũng có diện tích trồng lan khoảng 2.000m2. Mỗi tháng chị thu trên 30 triệu đồng. Chị Hạnh tâm sự: “Cũng như nhiều hộ ND trong xã, cuộc sống của gia đình tôi trước khi trồng lan thuộc loại trung bình. Nhờ Hội ND xã tạo điều kiện giúp vay vốn ưu đãi và tham gia THT trồng lan, thu nhập của gia đình tôi rất ổn định, gia đình tôi sống khá hơn trước nhiều”.

    Ông Ngô Hoàng Long phấn hởi thông tin: “Tất cả 13 thành viên của THT trồng hoa lan đều có cuộc sống khá hơn hồi trồng lúa. Hội đang vận động các hộ trồng lan trong xã tham gia THT trồng lan. Trồng lan là mô hình phù hợp trong điều kiện đất sản xuất ở thành phố ngày một ít. Đây là cây trồng phù hợp với nông nghiệp đô thị, cần có hàm lượng chất xám cao. Hội ND xã đang nhân rộng vườn lan ra nhiều hộ hội viên ND…”.

    Chiêu Lâm

    Read More
    22 Th8

    Tưới nước cho cây cà phê

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments kỹ thuật tưới cà phê, Tưới cà phê, Tưới nông nghiệp, Tưới phun mưa, tưới tự động

    Số lượng nước tưới cho cây cà phê như thế nào là hợp lý?

    Khi cây cà phê cần nước, nhưng lượng mưa cung cấp không đủ thì phải tiến hành tưới nước. Đó là khi độ ẩm ở trong đất xuống thấp nhỏ hơn 28%. Khi tưới nước phun mưa đã tạo ra dòng chảy trên bề mặt thì độ ẩm ở trong đất thường cao hơn 46%. Đối với cà phê trong thời kỳ kinh doanh trong điều kiện khô hạn như vùng Buôn Ma Thuột thì phải tưới lần đầu là 800m3/ha và các lần sau là 600m3/ha, khoảng cách giữa hai lần tưới thường là 3 tuần lễ. Ở những nới thiết các biện pháp che tủ đất, không có cây che bóng và thiếu đai rừng thì khoảng cách này ngắn hơn. Thường trong một mùa khô phải tưới tới 4 lần, năm hạn nặng phải tưới đến 5-6 lần. Lượng nước cần trong một năm cho một hectare cà phê từ 2600m3 – 3200m3.

    Tưới nước vào giai đoạn nào là hợp lý?

    Sau khi thu hoạch cây cần có thời gian dưỡng sức, phân hoá mầm hoa và cần có một thời gian khô hạn nhẹ. Khi thầy cây đã phân hoá mầm hoa khá đầy đủ, thường lá cuối tháng một, trong tháng 2 dương lịch ở Buôn Ma Thuột thì tiến hành tưới nước lần đầu. Sở dĩ tưới lần đầu phải đẫm cho cây đủ nước đề bung hoa, nếu tưới không đủ nước thì hoa không nở được và có hiện tượng hoa chanh dẫn tới hoa bị khô là giảm năng suất đáng kể. Tưới nước lần đầu hợp lý về thời gian có khả năng làm cho tỷ lệ hoa nở lên tới 60-70%, nếu tưới nước quá sớm thì đất còn đủ ẩm, hoa sẽ nở lai rai và không tiết kiệm được nguồn nước, gây ra lãng phí.

    Có mấy cách tưới nước cho cà phê?

    Thường trong sản xuất có mấy cách tưới nước như sau:

    – Phương pháp tưới phun mưa: Là phương pháp tưới tốt nhất vì làm cho lượng nước phân bố từ từ và đều trên toàn bộ bề mặt đất, ít gây ra xói mòn và xáo trộn cấu tượng của đất, tạo ra độ ẩm thuận lợi cho bung hoa, chi phí đầu tư thấp, ít hư hỏng, dễ vận hành. Xem thêm bài viết “Lợi ích tưới phun mưa”

    – Phương pháp tưới gốc: Dùng ống cao su thường có đường kính 50mm đưa nước vào từng gốc. Trước khi tưới nước phải vét bồn xung quanh gốc và tán cây để chứa nước. Không đào bồn quá sâu bởi vì trên 80% trọng lượng rễ tập trung ở tầng đất có độ sâu từ 0-40cm. Đào bồn quá sâu làm hư hại nặng bộ rễ sẽ có ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng và sự hút chất dinh dưỡng của cây. Khi tưới đề ống nằm ngang trên mặt đất, không cần trút đầu ống xuống đất vì như vậy tạo thành hố làm xáo trộn cấu trúc tầng đất mặt. Khi nước đã đầy bồn thì di chuyển ống sang tưới cây bên cạnh, khi thấy nước ở hố trước đã rút cạn thì quay ống lại tưới tiếp cho đủ lượng khoảng 450 lít/gốc (từ lần thứ hai trở đi). Phương pháp này, bà con thường tưới dư nước (73% hộ dân tưới dư nước), tham khảo bài viết thực trạng tưới cà phê.

    – Tưới tràn: Ở những nơi có độ dốc vừa phải có thể làm rãnh rồi dẫn nước vào từng hố để tưới cho cà phê. Phương pháp này tốn rất nhiều nước, ở những nơi có nguồn nấm bệnh ở rễ, rệp sáp, tuyến trùng thông qua phương pháp tưới này có thể tạo ra con đường lây lan nguồn bệnh qua dòng nước. Ở những nơi đã thấy xuất hiện bệnh rễ thì không được tưới tràn.

    – Tưới nhỏ giọt: Đây là phương pháp tưới tiết kiệm nước, ít gây những tác động xấu cho vườn cây song phải có thiết bị và hệ thống ống nước hay vòi phun đặc biệt. Khi sử dụng hệ thống này phải được hướng dẫn về mặt kỹ thuật và quản lý có nhiều khó khăn, chi phí đầu tư thường lớn, chi phí vận hành, bảo trì phát sinh nhiều.

    Read More
    với mỗi ha đã có khoảng 500-600 khối gỗ, bán với giá thị trường 1,5 triệu/khối gỗ thì đã thu được 750 triệu/ha
    21 Th8

    Cây tỷ phú

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments

    Tìm hiểu thực tế, chúng tôi thật sự ngỡ ngàng trước loài cây có thể phát triển trồng rừng rất nhanh…

    Tình cờ tôi gặp anh Bùi Văn Tính (Cty CP Nông lâm nghiệp Lâm Vỹ Tín), được biết, nhóm các anh gồm ba thành viên hiện đang ráo riết bắt tay vào triển khai dự án trồng khảo nghiệm giống cây rừng mới có tên Thiên Ngân với qui mô lớn tại một số tỉnh phía Nam.

    HÀNH TRÌNH TÌM “CÂY TỶ PHÚ“

    Dẫn chúng tôi xuyên qua cả chục km đường dốc trơn trượt rất khó đi, đến thăm trang trại rộng cả chục ha của anh Nghiêm Gia Dũng nằm sâu trong khu vực ấp 2, xã Suối Trầu, huyện Long Thành (Đồng Nai), là người đầu tiên ở đây trồng giống cây Thiên Ngân (còn gọi “cây tỷ phú”).

    Anh Tính phấn khởi khoe: “Chúng tôi đang phối hợp với trang trại của anh Dũng để làm điểm khảo nghiệm và sản xuất cây giống. Sau đó, dần dần sẽ nhân rộng mô hình trên địa bàn khi đã chứng minh được tiềm năng thực tế và hiệu quả “thần tốc” của giống cây này mang lại cho người trồng!”.

    Anh Tính kể, khoảng cuối năm 2008, tình cờ anh gặp một Việt kiều nói chuyện ở bên Thái Lan đang trồng giống cây rừng rất “hot”, có tên gọi là Tagu, khả năng loại cây này rất phù hợp với điều kiện đất đai và khí hậu ở Việt Nam. Nghe vậy, anh Tính về bắt đầu nung nấu ý tưởng quyết tâm phải đi tìm hiểu bằng được.

    Mấy lần bay sang Thái Lan, anh lặn lội đến những vùng đang trồng cây Thiên Ngân để tìm hiểu thông tin rồi đặt vấn đề mua cây và hạt giống đem về nước trồng thử nghiệm. Lúc đầu anh chỉ mua được nửa kg hạt giống (60 triệu đồng) về gieo thử trên khay, chậu nhưng chẳng hiểu tại sao hạt giống không chịu nảy mầm.

    với mỗi ha đã có khoảng 500-600 khối gỗ, bán với giá thị trường 1,5 triệu/khối gỗ thì đã thu được 750 triệu/ha
    Cây sinh trưởng nhanh, sau 5-10 năm đã thành cây gỗ lớn. Vì có sức mọc nhanh đến kỳ lạ, nên cây Thiên Ngân có triển vọng rất lớn. Nếu thâm canh cao, thì chỉ sau 5 đến 8 năm đã thu hoạch được cây gỗ lớn và có khả năng tái sinh cao.

    Sau đó, anh Tính lại tiếp tục bay sang Thái Lan, lần này anh tìm mua được 70 cây giống (khoảng 60 ngày tuổi) gồm ba loại trắng, vàng và đỏ mang về trồng thử nghiệm tại xã Tân Hội, huyện Đức Trọng (Lâm Đồng) vì thấy vùng này có điều kiện khí hậu giống bên Thái Lan.

    Tuy nhiên, sau hai tháng kiểm tra thấy cây giống trong vườn trồng vẫn y vậy, chẳng phát triển cao thêm được chút nào khiến anh Tính rất lo lắng. Vậy nhưng, kiên trì theo dõi, anh mới biết được nguyên nhân do trồng cây đúng thời điểm mùa khô hạn thiếu nước tưới khiến cây bị “khát” và kém phát triển.

     Do vậy, anh phải mướn thêm người chăm sóc, ban ngày tăng cường nước tưới cho cây, còn ban đêm cây tự hấp thụ sương, không ngờ chỉ một tháng sau cả vườn cây từ từ hồi sức và phát triển rất mạnh. Nhìn vườn cây Thiên Ngân đang ngày càng phát triển lên nhanh đều, lá cây to gần bằng tàu lá chuối xanh mướt, anh Tính mừng như vớ được vàng và tin tưởng mình đã thành công.

    Tuy nhiên, mới bước vào “nghiệp cây giống” anh Tính còn rất bỡ ngỡ, thiếu kinh nghiệm về kỹ thuật trồng, chăm sóc cây. “Đang loay hoay chưa biết xử lý vườn cây giống thế nào để nhân rộng mô hình thì tình cờ tôi gặp được anh Mai Viết Phẩm (TP.HCM) và anh Bùi Văn Tân (Kiên Giang), biết các anh cũng đang tìm hiểu về giống cây Thiên Ngân khi nghe các nhà khoa học giới thiệu về giống cây này rất hiệu quả.

    Chúng tôi gặp nhau cùng trao đổi chia sẻ về vườn cây và những ý tưởng làm ăn, thấy rất hợp gu nên cả ba chúng tôi đã thống nhất lập công ty và cùng chung tay xây dựng dự án phát triển giống cây trồng rừng!”, anh Tính tâm sự.

    XÂY DỰNG “VỆ TINH” GÂY RỪNG

    Cầm trên tay những cây giống nhỏ đang ươm trong vườn, anh Tính hào hứng giới thiệu: “Đây là giống cây mới, người dân Thái Lan gọi là cây Tagu. Nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn gọi là “cây tỷ phú”, sau các nhà khoa học lâm nghiệp đặt là cây Thiên Ngân, có người tôn vinh “cây kỳ tích” bởi những tiềm lực cực lớn của nó trong việc gây rừng, chúng mọc rất nhanh trên mọi địa hình và ở các vùng đất khác nhau!”.


    Ươm giống cây Thiên Ngân

    Theo anh Tính, lúc đầu anh chỉ nghĩ rằng mua cây giống về để tự trồng phát triển kinh tế gia đình. Tuy nhiên, sớm có duyên gắn với “nghiệp vườn” khi vừa gặp anh Phẩm và Tân, các anh đã rất tâm đắc với ý tưởng lập dự án phát triển giống cây này trồng rừng.

    Vốn là nhà vườn có thâm niên trồng nhiều loại giống cây ăn trái, đặc biệt nổi tiếng với nghề trồng cam đỏ không hạt trên TP.Đà Lạt (Lâm Đồng), anh Mai Viết Phẩm có nhiều kinh nghiệm trong việc phát triển vườn cây và chọn tạo, nhân cây giống. Còn anh Bùi Văn Tân đang là dân kinh doanh nhưng cũng rất tâm đắc với loài cây mới nên khi các anh vừa gặp nhau như đã thân thiết từ lâu, thế là thống nhất bắt tay triển khai ngay dự án.

    Gặp chúng tôi, anh Nghiêm Gia Dũng, chủ vườn tâm sự: “Cuối năm ngoái tôi mới bắt đầu triển khai trồng giống cây này trên diện tích 7 ha (khoảng 4.000 cây). Mặc dù lúc đó đang thời điểm vào đầu mùa khô nhưng cây phát triển rất nhanh, mới hai tháng đầu cây đã cao được 1,2 mét, lá to xanh mướt. Đến nay, vườn cây Thiên Ngân đã cao vượt quá đầu người và phát triển rất đều”.

    Mới đây ông Phó trưởng ấp 2 cũng triển khai trồng thử 1 ha cây Thiên Ngân để so sánh với mô hình trồng cây tràm và keo. Còn nhiều hộ dân xung quanh thấy vườn Thiên Ngân của anh phát triển nhanh, có tiềm năng hơn trồng keo, tràm nên ai cũng muốn chuyển hướng qua trồng giống cây này.

    “Tôi đang dự tính cuối năm nay sẽ mở rộng thêm khoảng 5 ha để nhân cây giống, đồng thời sẽ thỏa thuận với các hộ dân làm “vệ tinh” cùng trồng cây Thiên Ngân và cung cấp cây giống cho họ trồng làm trụ tiêu, sau 5 đến 10 năm sẽ thu hoạch gỗ và ăn chia 50/50 giá trị cây”, anh Dũng nói.


    Cây Thiên Ngân đến ngày thu hoạch gỗ

    NHÂN RỘNG MÔ HÌNH RỪNG SẢN XUẤT

    Thiên Ngân có tên khoa học Neolamarckia Cadamba, cây trưởng thành có thân cao tới 30 mét, đường kính tới trên 100 cm, thân tròn, thẳng đứng. Hiện cây Thiên Ngân có mặt ở các nước như Việt Nam, Trung Quốc, Srilanka, Philipin, Ấn Độ, Indonexia, Mianma, Thái Lan… Cây sinh trưởng nhanh, sau 5-10 năm đã thành cây gỗ lớn. Vì có sức mọc nhanh đến kỳ lạ, nên cây Thiên Ngân có triển vọng rất lớn. Nếu thâm canh cao, thì chỉ sau 5 đến 8 năm đã thu hoạch được cây gỗ lớn và có khả năng tái sinh cao.

     

    Để tìm hiểu thêm về cây Thiên Ngân, bạn đọc có thể liên hệ: Anh Bùi Văn Tân, GĐ Cty CP Nông lâm nghiệp Lâm Vỹ Tín, phường Vĩnh Hiệp, TP Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. ĐT: 0917247724. 

     

     

    Mặc cho cơn mưa dày hạt đang đổ ào xuống, nhóm trí thức trẻ vẫn cặm cụi chăm sóc vườn ươm giống của mình để kịp chuẩn bị cho đợt trồng khảo nghiệm giống có quy mô trên những nơi diện tích rừng bị phá. Anh Mai Viết Phẩm cho biết: “Loại cây này rất dễ trồng, nếu trồng để lấy nguyên liệu làm giấy thì với khoảng cách 2 mét/cây, còn trồng lấy gỗ thì trồng 4 mét/cây. Cũng có thể trồng kết hợp hai mục đích trên thì trồng 1,5 mét/cây và cách mỗi năm thu hoạch 1 cây”.

    Theo anh Phẩm, cây Thiên Ngân có tốc độ phát triển rất nhanh nên thích hợp với việc tái tạo rừng ở các lưu vực sông, vùng đất bị xói mòn. Cây có thân thẳng đứng, gỗ vàng nhạt kết cấu đều, sợi gỗ thô và dài, không có mùi vị dị biệt, gỗ khô nhanh, không dễ nứt nên rất dễ chế biến. Loại gỗ này vẫn được dùng để sản xuất đồ gia dụng, đồ thủ công mỹ nghệ, thùng xe, trang trí kiến trúc, là nguyên liệu rất tốt để làm ván sợi nhân tạo, ván MDF, bột giấy…

    Trao đổi với NNVN, anh Bùi Văn Tân, GĐ Cty CP Nông lâm nghiệp Lâm Vỹ Tín cho biết: “Hiện chúng tôi đã đi khảo sát thực tế ở nhiều địa phương và lên kế hoạch hợp tác với các hộ dân để nhân rộng mô hình trồng cây Thiên Ngân xen trong rẫy cà phê, hay vườn ca cao sẽ rất hiệu quả!”.

    Anh Tân cho biết, các anh đang triển khai thêm những điểm trồng khảo nghiệm giống tại Lâm trường Hòn Đất và Lâm trường Kiên Lương (Kiên Giang). Đồng thời xây dựng được hai trại giống ở xã Lộc Sơn, TP. Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng và TP.Rạch Giá (Kiên Giang) với mỗi trại có quy mô khoảng 150.000 cây giống.

    Hiện đã triển khai hợp tác với các hộ dân nhân rộng mô hình trồng xen trong rẫy cà phê với diện tích 60 ha trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Đến nay, dù mới trồng được 14 tháng nhưng cây đã cao 3 mét với đường kính 10 cm, mô hình này được nhiều hộ dân rất ủng hộ.

    GIÁ TRỊ GẤP 10 LẦN TRÀM, KEO?

    Theo anh Bùi Văn Tân, mỗi ha trồng được 600 cây, sau khoảng 5 năm cây sẽ đạt vanh thân 120-160 cm, chiều cao tối đa là 12 mét, tính ra mỗi cây sẽ cho bình quân 1 khối gỗ.

    Như vậy, với mỗi ha đã có khoảng 500-600 khối gỗ, bán với giá thị trường 1,5 triệu/khối gỗ thì đã thu được 750 triệu/ha. Còn thực tế trồng cây tràm hoặc keo sau 5 năm chỉ thu hoạch tối đa đạt khoảng 70 triệu/ha, như vậy trồng cây Thiên Ngân cho thu nhập cao hơn gấp 10 lần so với cây tràm, keo.

    Read More
    Ứng dụng công nghệ tưới tự động trong sản xuất Nông nghiệp tại Đức Trọng - Lâm Đồng
    18 Th8

    Đức Trọng xây dựng nền nông nghiệp toàn diện, hiện đại

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments tưới tự động

    Thực hiện chương trình “Tam nông” (nông nghiệp, nông dân, nông thôn) theo Nghị quyết số 26 – NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, huyện Đức Trọng đang xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại.

    Ứng dụng công nghệ tưới tự động trong sản xuất Nông nghiệp tại Đức Trọng - Lâm Đồng
    Ccánh đồng trồng rau ứng dụng công nghệ tưới hiện đại Nelson

    Huyện Đức Trọng nằm ở phía bắc của tỉnh Lâm Đồng có diện tích tự nhiên là hơn 90 ngàn ha với dân số hơn 171 ngàn nhân khẩu. Trong đó, tổng diện tích đất bố trí sản xuất nông nghiệp là gần 35 ngàn ha. Điều kiện tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng nơi đây thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Thực hiện chương trình “Tam nông”, huyện Đức Trọng đang phát huy lợi thế của mình để xây dựng một nền nông nghiệp bền vững, phát triển toàn diện theo hướng hiện đại.

    Từ năm 2008 đến nay, cơ cấu cây trồng nông nghiệp trên địa bàn huyện Đức Trọng đã chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế thị trường. Những giống cây trồng quen thuộc lâu nay như bắp, đậu công nghiệp, lúa một vụ hiệu quả không cao nên đang dần nhường chỗ cho các loại cây rau, hoa, cà phê và cây ăn trái. Cụ thể, trong 5 năm qua, huyện Đức Trọng đã chuyển được hơn 1,3 ngàn ha đất trồng lúa một vụ sang các giống rau, hoa để nâng cao thu nhập trên đơn vị diện tích. Nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn cũng không ngừng gia tăng cả diện tịch lẫn quy mô. Hiện nay, huyện Đức Trọng có hơn 2 ngàn ha sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao, tăng hơn 1,6 ngàn so với năm 2008. Trong đó, diện tích nhà kính nhà lưới là hơn 150ha, diện tích tưới phun mưa ngoài trời là hơn 1,2 ngàn ha và diện tích phủ màng polimer ngoài trời là hơn 750ha. Người nông dân Đức Trọng cũng đang từng bước áp dụng máy móc vào sản xuất nông nghiệp để thay thế nhân công lao động. Hiện nay, tỷ lệ cơ giới hóa trong khâu làm đất của người dân nơi đây đạt 100%; trong khâu bón phân, chăm sóc, thu hoạch đạt 50%. Nhìn chung, thời gian qua, việc áp dụng sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao đã giúp cho người dân Đức Trọng có thu nhập cao trên đồng ruộng của mình. Hiện nay, bình quân giá trị sản xuất của nông dân Đức Trọng đạt trên 110 triệu đồng/1ha mỗi năm, đặc biệt có những mô hình sản xuất rau, hoa trong nhà kính đạt khoảng 500-800 triệu đồng/ha/năm. Các vùng sản xuất rau, hoa công nghệ cao cũng đang được chính quyền huyện Đức Trọng chỉ đạo các cấp, các ngành thực hiện quy hoạch để người dân thực hiện hiệu quả, đáp ứng nhu cầu thị trường. Ông Phạm Hồng Hải – Phó Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Đức Trọng cho biết: “Đức Trọng là một địa phương có nhiều thuận lợi để phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Hiện nay, chúng tôi đang tiếp tục nghiên cứu thí điểm một số giống cây trồng mới để người dân áp dụng sản xuất nâng cao thu nhập. Thực hiện chương trình “Tam nông” thời gian qua, nền nông nghiệp của huyện Đức Trọng đã có những bước phát triển đáng kể”.

    Để người nông dân có đầu ra ổn định, yên tâm sản xuất, chính quyền huyện Đức Trọng cũng đã thường xuyên quan tâm công tác xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm cho người dân. Trên địa bàn Đức Trọng hiện có trên 60 đại lý, điểm thu mua nông sản và mỗi ngày thu mua của nông dân khoảng hơn 1 ngàn tấn rau, hoa các loại. Các doanh nghiệp chế biến rau, hoa trên địa bàn có năng lực chế biến hơn 30 ngàn tấn rau nguyên liệu mỗi năm để sản xuất ra khoảng 10 ngàn tấn rau thành phẩm xuất khẩu. Ngoài ra, chính quyền địa phương cũng đã hướng dẫn, khuyến khích các cơ sở, hộ kinh doanh đăng ký sử dụng thương hiệu rau Đà Lạt trong sản xuất và tiêu thụ để tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Hiện nay, trên địa bàn huyện Đức Trọng có hơn 80 ha sản xuất rau của 15 đơn vị được công nhận đủ điều kiện sản xuất rau an toàn, từ đó tạo được uy tín chất lượng của nông sản địa phương trên thị trường trong và ngoài nước. Người dân Đức Trọng cũng đang từng bước áp dụng quy trình sản xuất VietGAP để có nguồn sản phẩm sạch, đảm bảo tiêu chuẩn cung cấp cho thị trường.

    Trong lĩnh vực chăn nuôi, huyện Đức Trọng đang tập trung chỉ đạo phát triển đàn gia súc, gia cầm, trong đó chú trọng phát triển mạnh đàn bò sữa và đàn heo. Đây là hai giống vật nuôi có lợi thế ở địa phương vì nguồn thức ăn dồi dào, điều kiện khí hậu thuận lợi để phát triển.

    Như vậy, sau 5 năm thực hiện chương trình “Tam nông”, nền nông nghiệp của Đức Trọng đã có những bước phát triển vượt bậc toàn diện theo hướng hiện đại. Người nông dân đã có công ăn việc làm ổn định và đang vươn lên làm giàu chính trên đồng ruộng của mình. Đức Trọng hiện là một trong những địa phương trọng điểm về sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Cùng với việc thực hiện chương trình “Tam nông” hy vọng với những lợi thế của mình Đức Trọng sớm đạt được một nền nông nghiệp bền vững, toàn diện và hiện đại.

    DUY NGUYỄN

    Read More

    Nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp ở Tây nguyên: SOS!

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments

    Biến đổi khí hậu, mất cân bằng sinh thái và quan trọng hơn là nạn khai thác, sử dụng nước bừa bãi… trên địa bàn Dak Lak hiện nay đã khiến nguồn nước ngầm cũng như nước mặt ở đây kiệt dần, không duy trì được yếu tố bền vững nhằm phục vụ cho sản xuất

    Không thể kiểm soát nổi

    Thực tế cho thấy tốc độ phát triển của nền sản xuất nông nghiệp ở Dak Lak cũng như Tây Nguyên đang ngày một “phình to”, kéo theo nhu cầu sử dụng nguồn nước càng lớn đến mức đã mất khả năng kiểm soát. Ông Nguyễn Văn Tuyền – cán bộ Phòng Tài nguyên nước và Khí tượng thủy văn (Sở Tài nguyên – Môi trường) cho rằng, lượng khai thác tài nguyên nước ngầm ở Dak Lak đã vượt mức an toàn. Thông số đánh giá việc khai thác, sử dụng nước ngầm ở mức cho phép trên địa bàn Dak Lak đưa ra từ những năm 2000 là khoảng 4-4,2 triệu m3/ngày, nay đã tăng lên rất nhiều. Đến nay, dù chưa có con số thống kê chính xác, nhưng qua đánh giá của các cơ quan chức năng có thể lên tới gần 6 triệu m3/ ngày, trong đó lượng nước ngầm được khai thác vào những tháng mùa khô chiếm khoảng 80%. Tình trạng này dẫn đến điều tất yếu là mực nước ngầm trên địa bàn tỉnh trong vài năm qua đã tụt giảm đáng kể. Con số đưa ra từ năm 1997 của Đoàn địa chất 704 cho thấy: tổng trữ lượng nước ngầm (ở trạng thái tĩnh, không có sự tác động bất thường của môi trường tự nhiên) tại Dak Lak là 120,9x 10 (lũy thừa 9) m3 đến nay “không đứng vững” được nữa! Nó thấp hơn rất nhiều, chỉ còn khoảng 1/3 so với trước. Ông Tuyền cho rằng, sự giàu nghèo tài nguyên nước ở đây phụ thuộc vào lượng mưa, vào thành phần vật chất của lớp phủ bề mặt và mức độ lưu giữ nước của thành tạo địa chất từng vùng. Nếu để mất đi (hay suy giảm) một hoặc nhiều yếu tố trên sẽ khiến tài nguyên nước nghèo đi. Biết thế, nhưng ở Dak Lak nói riêng và Tây Nguyên nói chung đã để mất đi ngày càng nhiều yếu tố quan trọng và quyết định đó. Ngoài lượng mưa hàng năm có xu hướng ít đi, do mùa khô kéo dài, thì tình trạng mất rừng và sự thay đổi nhanh chóng của lớp phủ bề mặt trên thành tạo địa chất, mà cụ thể là trên đất (vì mục đích quy hoạch để trồng hoa màu, cây công nghiệp và nhiều dự án nông – lâm nghiệp khác) đã làm cho mực nước ngầm tụt giảm  trung bình từ 3-5 m. Qua khảo sát cho thấy một số vùng như Krông Pak, Lak, Krông Buk và vùng phía Đông Buôn Ma Thuột … mực nước ngầm tiềm năng không còn nhiều như 5 năm trước. Ví dụ vùng Krông Pak, Lak… năm 2004-2005 có thể khai thác tối đa 0,4-0,6 triệu m3/ngày, thì nay còn chưa đầy 400 nghìn m3/ngày.

    Điều đó cũng dễ thấy qua hoạt động sản xuất của nhiều nông hộ trồng cà phê ở đây. Chị Trương Thị Hà, ông Y Briu Ê Nuôl ở Krông Buk cho biết, trước đây họ đào một cái giếng (sâu từ 25-30 m) là có thể tưới 2-3 ha cà phê trong vòng 10 giờ liên tục, bây giờ chỉ tưới được 1 ha là kiệt nước, phải chờ nhiều giờ sau đó mới có nước hồi phục. Như vậy, rõ ràng  các địa phương ở Dak Lak nói riêng và cả vùng Tây Nguyên nói chung đã đến lúc phải chủ động hơn trong việc quy hoạch, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước đang trở nên khan hiếm như hiện nay mới có thể bảo đảm cho việc phát triển kinh tế – xã hội một cách bền vững trong những năm tiếp theo. Nếu không, sự mất cân bằng và ngày càng không bảo đảm yếu tố bền vững trong việc tìm kiếm, sử dụng nguồn nước tưới phục vụ cho sản xuất nông nghiệp ở đây trở nên khó khăn và nóng bỏng thêm.

    Nông dân ở huyện Cư M’gar đào giếng tìm mạch nước để chống hạn.

    Hướng đến sự bền vững và hài hòa

    Mới đây, trong báo cáo đánh giá việc sử dụng hợp lý nguồn nước để phục vụ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn Tây Nguyên của một nhóm nhà khoa học (thuộc Trường Đại học Thủy lợi Hà Nội) trình Chính phủ đã chỉ ra những yếu tố được coi là không bền vững của tài nguyên nước ở đây trên hai phương diện sau: Thứ nhất là tài nguyên nước mặt (chỉ xét đến lượng nước hiện hữu trên các sông suối điển hình như Sê San, Sêrêpôk, sông Ba và Đồng Nai) đã kiệt dần từ lưu lượng 173.863,54 lít/giây của những năm 2004-2005 xuống còn khoảng 127.000 lít/giây hiện nay. Thứ hai là sự phân bổ không đồng đều của lượng mưa theo không gian và thời gian. Nơi có lượng mưa hằng năm lớn hơn 3000 mm như Kon Plông (Kon Tum), thượng nguồn sông Hinh (Dak Lak) và nơi có lượng mưa chỉ trên dưới 1.500 mm như Krông Buk, Ea Súp… thì sự chênh lệch lưu lượng nước ở đỉnh lũ lớn nhất với lưu lượng kiệt nhỏ nhất là rất cao! Các nhà khoa học cũng lưu ý thêm, những năm gần đây rừng Tây Nguyên bị chặt phá nặng nề, cộng với những yếu tố bất lợi như mùa khô kéo dài, sự biến đổi thất thường của khí hậu đã làm cho lũ lụt, hạn hán trở nên trầm trọng hơn. Ngoài ra, Tây Nguyên là nơi thượng nguồn của 3 hệ thống sông lớn (Sêrêpôk – Sê San nằm ở phía Tây Bắc và sông Đồng Nai ở phía Nam) được người dân tận lực khai thác nước ngầm ngay tại đầu nguồn để tưới cà phê, hoa màu khiến mực nước dưới lòng đất không ngừng bị hạ thấp, dẫn đến quá trình sản xuất tại các vùng hạ lưu gặp khó khăn do thiếu nước. Hơn thế, vấn đề đáng quan ngại nhất hiện nay là có quá nhiều công trình trình thủy điện được quy hoạch và xây dựng trên các hệ thống sông này đã nảy sinh “mâu thuẫn” ngày càng gay gắt thêm giữa việc trồng cây công nghiệp, đồng thời khai thác và phát triển quá “nóng” nguồn năng lượng tại thượng nguồn với việc xây dựng, phát triển các khu dân cư và đô thị ở hạ nguồn. Từ những yếu tố không bền vững, thậm chí là đáng báo động ấy, thiết nghĩ các tỉnh ở Tây Nguyên phải sớm có quy hoạch sử dụng tài nguyên nước một cách đồng bộ, hợp lý hơn để bảo đảm yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong hiện tại và tương lai. Nhanh chóng chấm dứt tình trạng khai thác nguồn tài nguyên nước một cách vô tổ chức, “mạnh ai nấy được” như hiện nay nhằm chia sẻ và cân đối hài hòa lợi ích từ vốn tài nguyên quý giá, quan trọng này.

      Theo Báo Đăk Lăk điện tử

      Read More

      Bà con nông dân ồ ạt trồng hồ tiêu

      Post By: NhaBeAgri 0 Comments

      Những năm gần đây, hồ tiêu là loại cây mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Giá hồ tiêu luôn ở mức cao khiến nhiều hộ nông dân đua nhau mở thêm diện tích.

      Người thì chặt bỏ vườn cà phê, người thì tìm mọi cách phá rừng để lấy đất trồng hồ tiêu. Mặc dù các cơ quan chức năng đã cảnh báo song người dân không mấy để tâm; cơn sốt này được dự báo là sẽ đi kèm với nhiều rủi ro khó lường.

      Diện tích tăng vọt

      Cây hồ tiêu mới phát triển trên địa bàn huyện Mang Yang (tỉnh Gia Lai) trong một vài năm trở lại đây, nhưng đã nhanh chóng trở thành một loại cây trồng rất “hot”, được ưa chuộng nhất hiện nay. Tính đến thời điểm hiện tại, tổng diện tích hồ tiêu toàn huyện đã tiến đến con số 550 ha và dự báo sẽ tiếp tục tăng mạnh.

      Hầu như năm nào số diện tích hồ tiêu trồng mới cũng vượt trên 300% kế hoạch huyện giao. Nguyên nhân khiến bà con nông dân liên tục trồng mới hồ tiêu là do trong trong thời gian qua, giá của loại cây trồng có mùi vị cay nồng này luôn ở mức cao. Và như vậy, nhiều hộ gia đình đã không ngần ngại phá bỏ vườn cà phê kém năng suất để thay thế loại cây trồng đang mang lại hiệu quả kinh tế cao này.

      Nông dân Nguyễn Ngọc Thiện, ở thôn 7, thị trấn Kon Dơng (huyện Mang Yang) cho biết: “Mấy năm trước, gia đình tôi trồng thử nghiệm hơn 500 trụ tiêu. Vụ thu hoạch vừa rồi, sau khi trừ đi chi phí đầu tư cũng thu được trên 200 triệu đồng tiền lãi. So với nhiều cây trồng khác như cà phê, điều… thì trồng tiêu đem lại hiệu quả kinh tế hơn nhiều. Năm nay, gia đình tôi quyết định sẽ đầu tư thêm khoảng 200 triệu đồng để xuống giống khoảng 800 trụ tiêu nữa”.


      Nhà nhà, người người ở huyện Mang Yang đua nhau trồng tiêu

      Tình trạng trên cũng đang diễn ra phổ biến tại nhiều địa phương, lâu nay được coi là vùng trọng điểm hồ tiêu của tỉnh Gia Lai, như Chư Sê, Chư Pưh, Chư Prông… Thống kê chưa đầy đủ của Sở NN-PTNT tỉnh Gia Lai, hiện toàn tỉnh có khoảng 9.000 ha hồ tiêu, vươn lên dẫn đầu cả khu vực Tây Nguyên về diện tích, “cháy” cả quy hoạch (theo quy hoạch của ngành nông nghiệp tỉnh Gia Lai, đến năm 2020, toàn tỉnh phấn đấu đạt 9.000ha hồ tiêu kinh doanh).

      Ông Phạm Ngọc Cơ, Trưởng phòng NN- PTNT huyện Mang Yang cho hay, năm 2013, diện tích cây hồ tiêu mà UBND huyện giao theo kế hoạch trồng khoảng 20 ha. Tuy nhiên, theo thống kê tới thời điểm đầu tháng 8, diện tích trồng mới đã gần 110 ha, đạt hơn 500% kế hoạch và vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại.

       

      Vụ tiêu năm 2009-2010, giá tiêu tăng đột biến từ 35.000 đ/kg đầu vụ lên 90.000 đ/kg cuối vụ. Đến vụ tiêu 2011-2012, giá tiêu tiếp tục tăng lên đến đỉnh điểm là 130.000 đ/kg. Vụ tiêu năm nay, giá hồ tiêu dao động ở mức 120.000 đ/kg và đang có chiều hướng tăng.

      Với giá 120 triệu đồng/tấn, sau khi trừ chi phí, nông dân vẫn còn lãi hơn một nửa. Vì thế, đối với các huyện còn nhiều đất trống như Chư Prông, Đăk Đoa, Mang Yang…, hàng ngàn hộ dân đổ xô trồng tiêu, ước tính diện tích tăng lên đến hàng trăm ha mỗi năm.

      “Sốt” đất và dây tiêu giống

      Hơn một tháng qua, việc tìm mua dây tiêu giống là chủ đề khiến người trồng tiêu trên địa bàn tỉnh Gia Lai đặc biệt quan tâm. Do nhu cầu tăng cao nên giá dây tiêu giống cũng không ngừng tăng giá.

      Nếu như trước đây, dây tiêu giống chỉ dao động từ 10.000 – 12.000 đ/dây, nhưng nay đã tăng vọt lên 15.000 – 25.000 đ/dây. Tuy nhiên, không phải người nào cũng tìm mua được dây tiêu giống vừa ý.

      Bà Phạm Thị Loan, một người trồng hồ tiêu ở xã Ia Blang, huyện Chư Sê (tỉnh Gia Lai) ngao ngán cho biết: “Gần một tháng nay, tôi dạo hết các vườn tiêu nhưng vẫn chưa mua được giống về ươm trồng. Cứ đến vườn tiêu ưng ý nào thì y như rằng nhận được câu trả lời của chủ vườn, là đã có người đặt mua rồi. Kiểu này không biết tôi có kịp gieo trồng cho vụ tới không nữa”.

      Ngoài “sốt” dây tiêu giống, giá đất nông nghiệp cũng không ngừng leo thang từng ngày. Theo tìm hiểu của chúng tôi, hiện tại giá đất nông nghiệp theo giá Nhà nước thì chưa tới 100 triệu đồng/ha, nhưng giá đất thực tế trên thị trường hiện nay cao hơn từ 3 đến 4 lần so với giá Nhà nước.

      Nhất là những vùng đất thích hợp để trồng cây hồ tiêu, với địa thế thuận lợi, nguồn nước đảm bảo thì giá càng được đôn lên cao, hơn 400 triệu đồng/ha. Cơn sốt đất trồng tiêu không ngừng leo thang khiến nhiều cánh rừng đã bị người dân triệt hạ không thương tiếc, điển hình là việc phá rừng thông phòng hộ ở huyện Mang Yang.

       Một nguy cơ nữa từ việc trồng hồ tiêu ào ạt trên địa bàn huyện Mang Yang, đó là những người dân tộc thiểu số từ phía Bắc di cư tự do đến sinh sống nhiều năm qua ở các tỉnh Đắk Nông và Bình Phước, nay có “của ăn, của để” đã đến huyện Mang Yang để mua đất trồng hồ tiêu.

      Những người này mua bán, sang nhượng đất đai bằng hình thức “viết tay” với người dân tại chỗ, khiến việc quy hoạch đất đai, dân cư trên địa bàn huyện Mang Yang “lộn tùng phèo”, chưa kể vấn đề mất an ninh trật tự…

      Hệ lụy khó lường

      Theo ông Phạm Ngọc Cơ, Trưởng phòng NN- PTNT huyện Mang Yang, diện tích tiêu vượt kế hoạch ở Mang Yang chỉ nở rộ trong vài ba năm trở gần đây, khi giá tiêu không ngừng tăng cao.

      Mặc dù vậy, không một cấp thẩm quyền nào “dám” ra văn bản “cấm trồng tiêu” cả! Bởi bất kỳ ngành sản xuất nào cũng đều được chi phối theo quy luật cung – cầu của thị trường. Giá tiêu đang cao ngất ngưởng thì người nông dân chạy đua để phát triển thêm diện tích cây tiêu là điều tất yếu.

      Tuy nhiên, bài học của nhiều năm trước vẫn còn, đã biết bao hộ dân rơi vào nghèo khó, nợ nần chồng chất, những nhà trồng tiêu lớn rơi vào thảm cảnh phá sản. Việc nông dân ở tỉnh Gia Lai ồ ạt trồng tiêu, bất chấp khuyến cáo của các ngành chức năng, không chỉ phá vỡ quy hoạch của tỉnh mà còn gây không ít lo ngại cho các ngành quản lý.

      Hơn ai hết, người trồng tiêu cần ý thức được thực trạng đó để có kế hoạch gieo trồng hợp lý…

      Read More

      Nông dân vẫn khó tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng

      Post By: NhaBeAgri 0 Comments cho vay nông nghiệp, cho vay phát triển nông nghiệp - nông thôn, Tín dụng trong ngành nông nghiệp

      Những năm gần đây, hệ thống ngân hàng đã triển khai nhiều chính sách ưu tiên nguồn vốn cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn với mức tăng trưởng trung bình khoảng 20%/năm. Tuy nhiên, chính sách tín dụng cho lĩnh vực này vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu và chưa phát huy hiệu quả như mong đợi.

      Đây là nội dung cuộc tọa đàm trực tuyến do Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tổ chức hôm qua (15/8).

      Dư nợ tín dụng bằng GDP ngành nông nghiệp

      Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Vũ Văn Tám cho rằng, Nghị định 41 về tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn ra đời và đi vào cuộc sống 3 năm qua đã góp phần quan trọng vào những thành tựu đầy ý nghĩa của nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn kinh tế đất nước gặp nhiều khó khăn. “Đây thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, nhằm tháo gỡ khó khăn về vốn hiện nay trong sản xuất”, ông Tám nói.

      Gần 10 năm trở lại đây, hệ thống ngân hàng đã triển khai nhiều chính sách ưu tiên nguồn vốn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn. Chỉ tính riêng từ năm 2008 đến nay, hàng năm tăng trưởng tín dụng cho lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn trung bình khoảng 20%.

      Đặc biệt kể từ sau khi Nghị định 41 ra đời, dòng vốn tín dụng càng được hướng mạnh về khu vực nông nghiệp, nông thôn. Nông nghiệp, nông thôn luôn là đối tượng ưu tiên trong chính sách tín dụng của Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng.


      Tín dụng góp phần phát triển nông nghiệp, nông thôn

      Ông Nguyễn Viết Mạnh, Vụ trưởng Vụ Tín dụng (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, bắt đầu khi có Nghị định 41 thì tín dụng cho nông nghiệp là 292.000 tỷ đồng, cho đến giờ, sau 3 năm  là 622.000 tỷ đồng, tăng 2,1 lần. “Vốn tín dụng này chiếm trong tổng tín dụng của toàn ngành khoảng 18-19%, nếu cộng cả dư nợ của Ngân hàng Chính sách thì chiếm khoảng 20-22%, tương ứng với mức đóng góp cho GDP cả nước của ngành nông nghiệp”, ông Mạnh nói.

      Cùng quan điểm, Thứ trưởng Vũ Văn Tám cho rằng, nhờ đồng vốn tín dụng, qua suy thoái tài chính toàn cầu từ 2008 đến nay, nông nghiệp luôn là cứu cánh, giúp ổn định xã hội, đời sống bà con cũng tăng lên, đây là điểm rất rõ nét.

      “Tôi cho rằng, Nghị định 41 có tác động tích cực. Nhiều lần, tôi cùng các đoàn đi vào các tỉnh ĐBSCL thì thấy rằng, đúng là đồng vốn ngân hàng đã có tác động  rất lớn đối với nông dân, đặc biệt là các hộ nuôi trồng thủy sản”, ông Tám nhấn mạnh.

      Trước năm 2010, tín dụng cho vay không có tài sản đảm bảo chỉ là 10 triệu trở xuống đối với nông dân, đối với trang trại là 50 triệu đồng, HTX là 100 triệu đồng. Tuy nhiên, sau khi có Nghị định 41, nông dân đã được nâng mức vay không tài sản đảm bảo từ 10 lên 50 triệu đồng, đối với trang trại là 50 lên 200 triệu đồng, HTX từ 100 lên 500 triệu đồng, giải quyết lượng vốn lớn, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận vốn tín dụng.

      Nông dân vẫn khó tiếp cận vốn vay

      Ông Lại Xuân Môn, Phó Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam cho biết, tuy chính sách đã cởi mở, song nông dân vẫn khó tiếp cận vốn vay. 3 năm nay, tín dụng dành cho nông dân thông qua Hội mới chỉ đạt 13.000 tỷ đồng, trong khi hộ nông dân trong cả nước là 14 triệu hộ, như vậy chưa đến 4% số hộ nông dân được vay vốn, trong khi bình thường khoảng 50% hoặc hơn có nhu cầu vay vốn.

      Đồng ý với quan điểm này, Thứ trưởng Vũ Văn Tám cho biết thêm, thực tế hiện nay, không chỉ nông dân, DN trong lĩnh vực nông nghiệp cũng rất cần hỗ trợ về tín dụng. “Tiếc rằng đa số DN trong lĩnh vực nông nghiệp của chúng ta chưa đủ khả năng, tận dụng cơ hội của thị trường để tổ chức liên kết, đồng hành với nông dân sản xuất. Tôi nghĩ rằng, trong lĩnh vực nông nghiệp hiện nay ngoài vấn đề vốn, kỹ thuật, thì vấn đề kinh doanh sản phẩm, bán hàng là rất quan trọng”, ông Tám phân tích.

      Lý giải điều này, Phó TGĐ Ngân hàng NN-PTNT Việt Nam Nguyễn Tiến Đông cho hay, chính sách tín dụng thông thường nhất quán và luôn có nguyên tắc nhất định trong thu hồi vốn.

       “Thời gian vừa qua, chúng ta cứ SX theo kiểu mạnh ai nấy làm, không có liên kết. Nếu có 1 ngành tốt thì chúng ta đổ xô vào, thị trường cần 10 lại sản xuất 15 dẫn tới cạnh tranh không lành mạnh, không bán được hàng là có nợ xấu. Vì vậy, để có chính sách tín dụng thì phải có quy hoạch từng nhóm ngành, từng vùng SX cụ thể, có sự liên kết thì khi đó tín dụng sẽ bền vững, thậm chí không cần thế chấp cho vay”, ông Đông đề xuất.

      “Đối với Agribank thì ngay cái tên đã nói rõ mục tiêu của chúng tôi là phục vụ cho nông nghiệp, nông thôn. Những năm qua, chúng tôi tập trung đưa hoạt động của mình theo hướng đó. Hiện nay, tổng dư nợ của Agribank khoảng 560.000 tỷ đồng, trong đó có khoảng 70% dư nợ được đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Chất lượng tín dụng cho vay cũng được đảm bảo, nợ xấu trong lĩnh vực này luôn dưới 3%.

      Về kinh nghiệm thành công khi hoạt động ở thị trường nông nghiệp, nông thôn thời gian qua, hiện chúng tôi có 2.000 chi nhánh, phòng giao dịch, phòng giao dịch liên xã. Trong tổng 40.000 cán bộ có 30%, tương đương khoảng 12.000 cán bộ, làm tín dụng”, ông Nguyễn Tiến Đông.

      Read More
      21 Th7

      Cơ giới hóa nông nghiệp: Thấy mà lo!

      Post By: NhaBeAgri 0 Comments

      Bãi thải của hàng ngoại.

      Thiết bị cơ giới là tay chân của nông nghiệp hiện đại. Nhưng thực tế buồn ở một nước nông nghiệp như Việt Nam, tới 90% thiết bị máy móc phục vụ SXNN hiện nay đều phải NK.

      Việc cơ giới hóa trong SX ì ạch, nhiều khâu như chăm sóc, thu hoạch, chế biến… gần như “trắng” về máy móc. 

      “Máy VN thì xin kiếu!”

      Tới Siêu thị Máy nông nghiệp (Vinacomm) nằm tun hút trong Khu đô thị mới Nam Trung Yên (Cầu Giấy, Hà Nội), dù thời điểm này chẳng phải mùa gặt nhưng lúc nào cũng nườm nượp khách, đông nhất phải kể tới khách hàng tìm mua máy gặt đập liên hợp (GĐLH).

      Khách hàng tới đây hầu hết là những nông dân đi dép tổ ong, đến từ khắp các tỉnh phía Bắc. Họ cho biết, sở dĩ lần mò được tới đây là bởi nhờ “search” (tìm) trên mạng internet, biết ở đây có bán máy GĐLH của Nhật.

      Vỗ vỗ vào thân chiếc máy GĐLH hiệu Kubota của Nhật Bản đã cũ mèm trưng bày trước sảnh siêu thị, một nông dân tên Toàn ở xã Lam Điền (huyện Chương Mỹ, Hà Nội) gật gật đầu tấm tắc: “Trông cũ thế thôi, nhưng tôi từng xem con máy này của ông bạn tôi chạy rồi, sướng khủng khiếp! Cần gạt điều khiển êm ru, chạy lối nào ra lối đó, xoay xở rất linh hoạt, gặt sát tận các góc ruộng.


      Một mẫu máy GĐLH “què quặt” do VN sản xuất bị nông dân la ó, tẩy chay

      Máy này còn có thùng chứa tới 6 tạ, gặt hàng chục phút mới phải xả thóc qua vòi xả một lần, chứ không phải cầm bao tải ngồi hứng thóc lách nhách trên máy. Đã thế, nó còn có cả chế độ cắt – đánh tơi rơm, hoặc giữ nguyên thân rơm tùy ý, gặt thì cứ gọi là sạch tinh, không sót một hạt, mà ruộng bùn sục, lầy nước gì cũng chạy bon bon… ”.

      Cắt đà hứng khởi của ông Toàn, tôi bảo: “Bác cứ hay sính ngoại, máy GĐLH của VN cũng tốt đấy, người Việt phải dùng hàng Việt chứ?”. Nghe tôi bảo, ông Toàn xua tay, lắc đầu nguầy nguậy: “Thôi thôi, đừng có nhắc tới cái của nợ ấy. Tôi làm cái nghề dịch vụ máy gặt mấy năm rồi, còn lạ gì. Được thì máy Nhật, máy Hàn, mà không thì máy Trung Quốc (TQ) còn tạm, chứ máy GĐLH của VN thì xin kiếu!”.

       Ông Toàn bảo: “Mấy vụ trước, tới vụ gặt cũng từng có rất nhiều đơn vị về huyện trình diễn máy GĐLH của Việt Nam rất rầm rộ. Nghe qua quảng cáo giới thiệu thì hay, nhưng khi đưa ra ruộng gặt thì dở ẹc. Máy chạy ruộng khô còn tạm, chứ chạy ruộng sụt không xoay trở nổi, gặt thì sót, xả rơm rối tung rối mù, lại hay nghẹt, máy điều khiển bằng vô-lăng nhưng rất khó, chạy chẳng ra hàng ra lối gì…

      Có ông bạn tôi ham rẻ, mua máy VN SX về chạy được vài vụ bây giờ bung bét nhưng chẳng có phụ tùng để thay, chỉ muốn vứt đi cho xong. May mà mấy vụ rồi tôi mua con máy TQ dùng tạm ổn, giờ đang tính đổi sang máy Nhật, chứ vớ phải con máy của VN thì chết chắc!”.

      Thị phần ngày một tóp lại

      Nói về thị trường máy nông nghiệp hiện nay, anh Nguyễn Văn Thủy – GĐ Siêu thị Máy nông nghiệp đánh giá, sản phẩm máy GĐLH hiện vẫn là mặt hàng sôi động nhất trong tất cả các loại máy cơ giới nông nghiệp, đặc biệt là kể từ khi phong trào xây dựng cánh đồng mẫu lớn (CĐML) phát triển rầm rộ trên cả nước. Ở miền Bắc, có thể nói nếu không có CĐML, thị trường máy GĐLH không thể mở toang như bây giờ.

       Ông chủ siêu thị máy cho biết, máy GĐLH mỗi năm Cty bán mấy trăm chiếc, và tiềm năng thị trường được đánh giá là sẽ còn rất lớn trong vòng ít nhất 5 năm nữa mới có thể bão hòa. Đây cũng là mảng miếng ngon ăn khiến các DN kinh doanh máy nông nghiệp có thể sống khỏe. Tuy nhiên, sản phẩm máy GĐLH giúp DN kinh doanh máy nông nghiệp “kiếm được” chỉ có thể là máy ngoại!

      Anh Thủy phân tích, thị trường máy GĐLH ở nước ta hiện nay có thể chia thành bốn mảng chính: Một là máy Nhật hoặc máy Hàn Quốc “xịn” (máy mới, trong đó chủ yếu là máy Nhật); hai là máy Nhật và máy Hàn Quốc “bãi” (máy cũ); ba là máy TQ, và cuối cùng là máy VN.

      Theo đó, cơ cấu thị trường phân chia như sau: Ở ĐBSCL, máy Nhật (gồm cả hàng “bãi” và hàng “xịn”) và Hàn Quốc chiếm 60%, máy TQ chiếm khoảng 30% và 10% còn lại thuộc về máy VN. Xu hướng ở vùng này, đó là máy Nhật và máy Hàn Quốc “xịn” đang và sẽ lên ngôi chiếm lĩnh hoàn toàn thị trường trong thời gian tới.

      Ở thị trường non trẻ phía Bắc: Máy Nhật hiện ước chiếm 60%, máy TQ chiếm 30% và máy VN chỉ chiếm khoảng 10%. Về xu hướng thị trường máy GĐLH ở phía Bắc, máy Nhật “bãi” được ưa chuộng nhất, trong khi đó thị phần máy TQ và VN đều đang “teo” lại. Đặc biệt, máy VN thì từ năm 2012 đến nay rất khó bán!

      Vì sao thị phần máy GĐLH của VN ngày càng teo lại? Anh Nguyễn Văn Thủy bảo: Chẳng phải DN kinh doanh máy không ủng hộ phát triển hàng nội, nhưng ủng hộ làm sao nổi khi máy GĐLH nội địa quá yếu!

      Anh Thủy nêu cụ thể: Ngoài số lượng máy GĐLH tự chế đang “chết dần chết mòn” ở ĐBSH, hiện chỉ có 3 mẫu máy GĐLH là GGD-120, MGD-140 và MGD-220 do Cty CP Động cơ – Máy nông nghiệp miền Nam (Vikyno – Vinapro) SX có thể coi là các sản phẩm máy GĐLH nội địa đang tham gia thị trường. Tất cả các mẫu máy này đều đã từng được chào hàng tại Siêu thị Máy nông nghiệp của anh Thủy.

      Trong đó, hai mẫu máy MGD-120 và MGD-140 có ưu điểm giá rẻ (chỉ khoảng hơn 100 triệu đồng/chiếc) nên từ năm 2012 trở về trước, mỗi năm Cty anh còn bán lẻ tẻ được 4-5 chiếc ở phía Bắc. Tuy nhiên chỉ sau một thời gian tung ra thị trường, vô số nhược điểm của hai mẫu máy này đã bị nông dân la ó tẩy chay.

      Riêng mẫu máy MGD-220 có thể coi là có chạy tốt, thì giá bán lại quá đắt, tới trên 400 triệu đồng. Với giá này, nông dân không mặn mà gì vì đắt tương đương máy Nhật nên họ bảo thà mua máy Nhật xịn còn hơn! Thế nên từ đầu năm 2013 đến nay, trong khi máy Nhật, máy TQ nhập khẩu Cty của anh Thủy bán hàng trăm chiếc vẫn “cháy” hàng, thì cả 3 mẫu máy của Vikyno – Vinapro không thể bán được chiếc nào.

      “Mấy vụ vừa rồi chúng tôi cũng từng rất nỗ lực đưa các mẫu máy do VN sản xuất đi trình diễn, gần đây nhất ở Sóc Sơn (Hà Nội). Tuy nhiên đưa máy xuống ruộng, máy không thể chạy nổi, gặt thì sót, rơm rối, hay nghẹt, rất khó điều khiển… nên nông dân la ó quá trời. Như thế còn bán được cho ai?” – anh Thủy lắc đầu ngao ngán.

       

      Thẳng thắn mà nói thì một vài mẫu máy GĐLH do VN sản xuất có thể nói vẫn cạnh tranh được về chất lượng với máy TQ. Nhưng cái yếu nhất của máy VN khi ra thị trường là phụ tùng, phụ kiện đi kèm rất ít, trong khi đó máy TQ phụ kiện, phụ tùng rất nhiều, thậm chí họ còn khuyến mãi rất hời về phụ kiện nên nông dân rất khoái.

      Mà nói là máy do VN sản xuất, nhưng dân trong nghề kinh doanh máy nông nghiệp, ai lại chẳng biết mấy cái máy đó thực ra linh kiện, phụ tùng quan trọng mấy ông ấy đều phải NK về lắp ráp, rồi gia công thêm thắt mà thôi, chứ làm gì có máy GĐLH do VN sản xuất thực sự?

      (Anh Nguyễn Văn Thủy, GĐ Siêu thị Máy nông nghiệp)

      Read More
      21 Th7

      Cơ giới hóa nông nghiệp. Thấy mà lo (loạt bài)

      Post By: NhaBeAgri 0 Comments

      Bỏ quên và tan tác.

      Đánh giá về thực trạng áp dụng cơ giới vào SX nông nghiệp ở nước ta hiện nay, TS Đoàn Xuân Thìn – Phó Tổng thư ký Hội cơ khí nông nghiệp Việt Nam ngừng giây lát rồi chậc lưỡi nhận xét: “Trừ khâu làm đất có thể xem là tạm được, ngoài ra có máy móc gì đâu?”.

       

      Nhìn quanh, chỉ thấy máy tuốt lúa, xát gạo

      TS Đoàn Xuân Thìn đã đưa ra bức tranh cụ thể về cơ giới hóa ở tất cả các công đoạn trong SX nông nghiệp hiện nay như sau:

      Về máy làm đất, mặc dù xuất hiện ở nước ta từ lâu, nhưng thực tế chỉ phát triển mạnh từ khoảng 10 năm trở lại đây. Dẫu vậy, hiện tỉ lệ diện tích đất nông nghiệp áp dụng cơ giới hóa đã khá lớn, ước đạt khoảng 90-95% ở vùng ĐBSH và ĐBSCL. Tuy nhiên, vùng Trung du MNPB và các vùng núi tỉ lệ này vẫn đang rất thấp, chỉ đạt khoảng 50%. Điều đáng nói, đa số máy làm đất hiện nay lại đều là máy đầu kéo hai bánh công suất rất bé, chỉ từ 8 đến 15 mã lực. Trước xu hướng mở rộng của các cánh đồng mẫu lớn, máy làm đất công suất bé này đang ngày càng lép vế, thay thế vào đó là các loại máy lớn đầu kéo 4 bánh của hãng Kubota đang rất được ưa chuộng.

      Về thị phần, máy làm đất do VN sản xuất theo ông Thìn hiện chiếm khoảng 30 – 40%, hầu hết đều do các cơ sở tư nhân nhỏ lẻ SX. Một DN kinh doanh máy nông nghiệp lớn tại phía Bắc lại cho rằng, máy làm đất NK từ Trung Quốc đang chiếm tới 80 – 85% thị trường. Ngoài ra, máy làm đất cỡ lớn của hãng Kubota cũng bán rất chạy. “Nói là máy do VN SX, nhưng thực ra các cơ sở tư nhân họ chỉ làm được bộ khung công tác, còn đầu nổ thì hầu hết là hàng Trung Quốc NK” – vị này cho biết.

      Máy gặt đập liên hoàn Kobuta
      Nông dân hứng khởi với chiếc máy GĐLH “second hand” hiệu Kubota

      Về máy gieo cấy, đáng chú ý nhất có lẽ là máy cấy MC – 6 – 250 do Viện Cơ điện và Công nghệ sau thu hoạch (VIAEP) nghiên cứu SX. Trước đây, máy này từng bán được một số lượng nhỏ ở ĐBSCL, tuy nhiên kể từ khi máy cấy Nhật Bản và Trung Quốc (TQ) NK tràn vào VN, mẫu máy cấy này gần như nằm “đắp chiếu” vì rất nhiều nhược điểm. Ngoài sản phẩm trên, có thể “đếm trên đầu ngón tay” thêm công cụ sạ hàng do một nông dân ở Cần Thơ tự chế và máy gieo đậu tương của ông Nguyễn Hữu Tùy (Ứng Hòa, Hà Nội) SX. Tuy nhiên, máy gieo đậu tương của ông Tùy không hiểu vì sao đến nay cũng gần như mất tăm trên thị trường máy nông nghiệp.

      Mảng máy thu hoạch được xem là khó nhất trong lĩnh vực máy nông nghiệp, cũng không sáng sủa gì. Đáng chú ý về máy thu hoạch tạm gọi là “madein Việt Nam” có thể kể tới hai kiểu máy gặt lúa. Đầu tiên là mẫu máy gặt lúa rải hàng (do Cty CP cơ khí chế tạo máy Long An và một số đơn vị tư nhân phía Bắc SX). Mẫu máy này hiện đã trở nên quá cổ lỗ sĩ, không tiêu thụ được trên thị trường khi máy gặt đập liên hợp (GĐLH) chiếm lĩnh, và hàng TQ NK cũng chiếm tới 60 – 70%.

      Đối với máy GĐLH, đánh giá của Hội cơ khí nông nghiệp VN cho thấy thời kỳ hoàng kim, số lượng máy GĐLH do các nông dân ĐBSCL tự chế tác (tiêu biểu như Tư Sang, Út “máy cày”…) lên tới khoảng 400 chiếc. Tuy nhiên khi máy GĐLH “ngoại” NK tràn vào, số lượng máy nội địa này ở ĐBSCL hiện chỉ còn 200 máy, đang chạy dặt dẹo chờ ngày thành phế thải.

      Nhận xét về thực trạng sử dụng cơ giới trong nông nghiệp, anh Nguyễn Xuân Thủy – GĐ Siêu thị Máy nông nghiệp (Hà Nội), người khá rành về thị trường máy nông nghiệp ngán ngẩm tổng kết: “Ngoài máy làm đất NK của TQ và Kubota của Nhật, máy chăm sóc hiện nay chúng ta chẳng có gì. Máy cắt cỏ, tỉa cành thì chúng tôi toàn nhập hàng TQ và Thụy Điển. Máy tuốt lúa thì mấy vụ rồi Siêu thị chẳng bán được cái nào, tương lai sẽ hết thời. Ở phía Nam, tôi thấy có lẽ chỉ còn lại máy xát gạo của Vikyno – Vinapro SX là đáng chú ý mà thôi”.

       

      “Ngoài máy gặt đập, gần đây tôi chỉ thấy có máy cắt mía, máy nâng mía do Viện Cơ điện và Công nghệ sau thu hoạch nghiên cứu SX, nhưng cũng chỉ đang chạy thử nghiệm, chẳng biết có “ra ngô ra khoai gì không”. Ở phía Bắc, nổi nhất có lẽ chỉ có máy tuốt lúa của Cty Việt Nhật (Xuân Tiến, Xuân Trường, Nam Định) SX, nhưng máy tuốt chắc sắp hết thời rồi, bởi máy GĐLH đang nở rộ” – ông Đoàn Xuân Thìn kết lại.

      Tan tác cơ khí chế tạo máy nông nghiệp

      Sớm tiếp xúc với những thiết bị cơ giới nông nghiệp hiện đại do các nước XHCN viện trợ, nhưng khi mở ra cơ chế thị trường, ngành cơ khí chế tạo máy nông nghiệp chống chếnh, đến nay gần như tan tành.

      Từng công tác trong ngành cơ khí nông nghiệp từ năm 1963 rồi trở thành “kỹ sư nông dân”, ông Nguyễn Hữu Tùy (Vân Đình, Ứng Hòa, Hà Nội) hiểu rất rõ về sự thăng trầm của ngành cơ khí chế tạo máy nông nghiệp.


      Hàng VN mất hút giữa ma trận những loại máy nông nghiệp NK

      Ông Tùy nhớ lại thời kỳ trước đổi mới (1986), Việt Nam đã từng được các nước XHCN viện trợ rất nhiều máy cơ khí làm đất, máy thu hoạch… Tuy nhiên, với đặc thù đồng ruộng của nước ta, việc sử dụng các thiết bị máy viện trợ lúc ấy chỉ dừng lại ở các mô hình trình diễn mang tính chất cổ vũ tinh thần nhân dân là chính. Ngay cả những nông trường lớn ở miền Bắc lúc đó như Nông trường Cao Phong, Sao Đỏ, 2/9, Mộc Châu… cũng chưa tiếp thu được.

      Mặc dù vậy, nước ta cũng đã từng xây dựng được một bộ máy quản lí nhà nước chuyên quản lí và phát triển cơ khí máy nông nghiệp (Cục Cơ khí nông nghiệp), mà cụ thể là hệ thống các NM SX thiết bị, phụ tùng cơ khí cấp vùng đảm nhiệm SX, chuyển giao thiết bị, phụ tùng máy nông nghiệp đơn giản cho hàng loạt các xí nghiệp máy kéo. Điều đáng tiếc là sau khi xóa cơ chế bao cấp, cùng với việc bộ máy quản lí chuyên ngành về cơ khí nông nghiệp bị giải thể, hàng loạt xí nghiệp máy kéo và NM SX thiết bị máy nông nghiệp cấp vùng bị xóa sổ, đội ngũ công nhân, cán bộ kỹ thuật lành nghề về lĩnh vực này mỗi người một phương (mà chính ông là một ví dụ).

      Sau những năm dài bị bỏ rơi, đến nay, hệ thống các NM SX cơ khí nông nghiệp của nước ta đã gần như tan tác. Theo nhận xét của ông Tùy, Bộ NN-PTNT hiện chỉ còn lại một đơn vị nhà nước duy nhất là Tổng Cty Cơ điện nông nghiệp và thủy lợi có chức năng SX máy nông nghiệp, nhưng thực chất đơn vị này đã “nhãng” ra mảng máy nông nghiệp từ lâu, hiện chủ yếu làm về mảng thủy lợi – thủy điện. Ngoài ra, một vài NM cơ khí nông nghiệp của Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công thương) qua thăng trầm của cơ chế thị trường hoặc sống lay lắt, hoặc xem mảng SX máy nông nghiệp như là nghề “tay trái” nên hàng chục năm qua không có bất kỳ sản phẩm máy nông nghiệp nào ra hồn.

      “Vài chục qua, ngành cơ khí nông nghiệp gần như Nhà nước bỏ bẵng. Những nông dân tự mày mò sáng chế như tôi, cùng lắm chỉ có thể SX ra những bộ khung công tác cho máy cày, máy kéo, chứ đầu nổ, máy thu hoạch phức tạp thì làm sao đủ sức để làm? Nếu Nhà nước không có chiến lược dài hơi để xốc lại ngành cơ khí chế tạo cho máy nông nghiệp, chúng ta sẽ mãi trở thành “bãi thải”, thành nô lệ của máy móc nông nghiệp NK, mãi không ngóc đầu lên nổi”.

      (“Kỹ sư nông dân” Nguyễn Hữu Tùy)

      Read More
      • Prev
      • 1
      • 2
      • …
      • 34
      • 35
      • 36
      • 37
      • 38
      • Next

      VẬN CHUYỂN

      Toàn quốc

      KHUYẾN MẠI

      & Quà tặng

      LIÊN HỆ

      0917 367 763

      UY TÍN

      & Chất lượng

      Cửa hàng

      • Hướng dẫn lắp đặt
      • Hỏi đáp
      • Ứng dụng mô hình tưới
      • Tin nông nghiệp
      • Tuyển dụng
      • Catalogue
      • Tin Nông Nghiệp
      • Ứng Dụng Mô Hình Tưới
      • Tuyển dụng
      • Tưới nông nghiệp
      • Thư viện
      • Giới thiệu

      Thông tin

      • Giới thiệu
      • Tin tức
      • Đội ngũ nhân viên
      • Làm đại lý phân phối
      • Chúng tôi đại diện cho
      • Liên hệ

      Hỗ trợ

      • Giao nhận hàng hóa
      • Thanh toán
      • Hướng dẫn mua hàng
      • Trả & đổi hàng
      • Chính sách bảo hành
      • Chính sách bảo mật thông tin

      Tài khoản

      • Giới thiệu
      • Video
      • Liên hệ
      • Tưới phun mưa
      • Tưới nhỏ giọt
      • Tưới cảnh quan
      • Tưới phun sương

      LIÊN HỆ MINH VŨ CO., LTD

      • 85. Nguỵ Như Kon Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
      • Email : minhvu1014@gmail.com
      • Điện thoại : 04 322 168 01

      CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG MINH VŨ

      © 2013-2017 All Rights Reversed.

      Close
      Sign in Or Register
      Forgot your password?

      NEW HERE?

      Registration is free and easy!

      • Faster checkout
      • Save multiple shipping addresses
      • View and track orders and more
      Create an account
      X
      • Menu
      • Categories
      • Trang chủ
      • Cửa hàng
        • Tài khoản
          • Cập nhật tài khoản
          • Cập nhật địa chỉ
          • Xem đơn hàng
          • Quên mật khẩu
        • Thanh toán
      • Tưới nông nghiệp
        • Hướng dẫn lắp đặt
        • Tư vấn chọn thiết bị tưới
        • Ứng dụng mô hình tưới
        • Tin nông nghiệp
        • Câu hỏi thường gặp
      • Thư viện
        • Video
        • Catalogue
      • Liên hệ
      • Tưới phun mưa
        • Béc tưới Ducar
        • Đầu tưới Rivulis
        • Béc tưới Nelson USA
        • Xe tưới tự cuốn Irrifrance
        • Béc tưới Đài Loan
        • Dây tưới phun mưa
      • Tưới nhỏ giọt
        • Dây (ống) tưới nhỏ giọt
          • Tưới nhỏ giọt DiG
          • Rivulis Israel
          • Tưới nhỏ giọt Seowon
        • Đầu tưới nhỏ giọt
        • Ống PE
        • Thiết bị lọc
        • Thiết bị châm phân
        • Phụ kiện ống PE
          • Phụ kiện ống 6mm
          • Phụ kiện ống 12mm
          • Phụ kiện ống 16mm
          • Phụ kiện ống 17mm
          • Phụ kiện ống 20mm
          • Phụ kiện ống 25mm
        • Phụ kiện tưới nhỏ giọt khác
      • Tưới cảnh quan
        • DIG USA
        • Cellfast
        • Hunter USA
      • Tưới phun sương
      • Van điện tử, bộ hẹn giờ
      • Ống nước – phụ kiện
      • Bơm nông nghiệp