Tài khoản

  • Giỏ hàng
  • Thanh toán
  • Tài khoản
  • Login
Giải pháp tưới tự động tối ưu trong nông nghiệp. Tưới nhỏ giọt - phun mưa - phun sương.
Tưới Nông Nghiệp Tự Động
  • Trang chủ
  • Cửa hàng
    • Tài khoản
      • Cập nhật tài khoản
      • Cập nhật địa chỉ
      • Xem đơn hàng
      • Quên mật khẩu
    • Thanh toán
  • Tưới nông nghiệp
    • Hướng dẫn lắp đặt
    • Tư vấn chọn thiết bị tưới
    • Ứng dụng mô hình tưới
    • Tin nông nghiệp
    • Câu hỏi thường gặp
  • Thư viện
    • Video
    • Catalogue
  • Liên hệ
0964 824 106 / 0917367763
Email: minhvu1014@gmail.com
All Departments
  • Tưới phun mưa
    • Béc tưới Ducar
    • Đầu tưới Rivulis
    • Béc tưới Nelson USA
    • Xe tưới tự cuốn Irrifrance
    • Béc tưới Đài Loan
    • Dây tưới phun mưa
  • Tưới nhỏ giọt
    • Dây (ống) tưới nhỏ giọt
      • Tưới nhỏ giọt DiG
      • Rivulis Israel
      • Tưới nhỏ giọt Seowon
    • Đầu tưới nhỏ giọt
    • Ống PE
    • Thiết bị lọc
    • Thiết bị châm phân
    • Phụ kiện ống PE
      • Phụ kiện ống 6mm
      • Phụ kiện ống 12mm
      • Phụ kiện ống 16mm
      • Phụ kiện ống 17mm
      • Phụ kiện ống 20mm
      • Phụ kiện ống 25mm
    • Phụ kiện tưới nhỏ giọt khác
  • Tưới cảnh quan
    • DIG USA
    • Cellfast
    • Hunter USA
  • Tưới phun sương
  • Van điện tử, bộ hẹn giờ
  • Ống nước – phụ kiện
  • Bơm nông nghiệp
0
There are 0 item(s) in your cart
    Subtotal: 0 ₫
    View Cart
    Check Out
    • Home
    • Tin nông nghiệp

    Chuyên mục

    Bài viết mới nhất

    • Chi Phí Lắp Đặt Hệ Thống Tưới Phun Mưa Cục Bộ Cho Cây Cam
    • ĐẦU TƯỚI PHUN MƯA RONDO
    • CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG MINH VŨ Tham Gia Triển Lãm Growtech
    • Kỹ thuật tưới cam
    • KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÀ CHUA TRONG NHÀ MÀNG
    • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Dưa Hấu
    • Tưới phun mưa cục bộ cho cây sầu riêng

    Tin nông nghiệp

    Thâm canh khoai tây: Cần thiết bổ sung các chất dinh dưỡng trung, vi lượng

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments định, đường
    Khoai tây là cây trồng vụ đông có giá trị kinh tế cao. Chỉ với thời gian 85-90 ngày nếu canh tác tốt có thể cho năng suất trên 30 tấn củ/ha, để có được 30 tấn củ/ha, cây khoai tây đã lấy đi từ đất trồng các chất dinh dưỡng như đạm 150kg (N); lân 60kg (P2O5); kali 140kg (K2O)…

    Khảo sát thực tế sản xuất khoai tây ở Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hà Nội… cho thấy: Nông dân thường dùng phân đơn như urê, lân supe, kali để bón, một số nơi còn dùng phân NPK thông thường, chưa bón đầy đủ các yếu tố dinh dưỡng trung, vi lượng nên khả năng chống chịu sâu bệnh kém, năng suất thấp.

    Nắm bắt được những bất cập về dinh dưỡng trong thâm canh khoai tây, Công ty CP Phân bón Văn Điển phối hợp với các nhà nông học nghiên cứu cho ra đời các loại phân bón đa yếu tố NPK chuyên dùng cho cây khoai tây NPK 5.10.3 bón lót có hàm lượng dinh dưỡng (N = 5%, P2O5 = 10%, K2O = 3%, MgO = 9%, CaO = 15%, SiO2 = 14%, S = 2% và các chất vi lượng Co, Mo, Zn, Cu… tổng hàm lượng dinh dưỡng đạt 58%). Phân bón đa yếu tố NPK 22.5.11 bón thúc có hàm lượng dinh dưỡng (N = 22%, P2O5 = 5%, K2O = 11%, MgO = 5%, CaO = 9%, SiO2 = 8% và các chất vi lượng B, Mn, Zn, Cu… tổng hàm lượng dinh dưỡng đạt 62%).

    Tất cả các chất dinh dưỡng đều ở dạng dễ tiêu, cây trồng hút được dễ dàng.

    Trọng Quan (huyện Đông Hưng) là xã trọng điểm khoai tây của tỉnh Thái Bình trong những năm gần đây, nông dân sử dụng phân bón đa yếu tố NPK Văn Điển cho nhận xét: Ruộng khoai tây được bón phân đa yếu tố NPK Văn Điển cây mập, thân lá cân đối, độ đồng đều cao, màu lá xanh bóng, tuổi thọ lá kéo dài, tỷ lệ cây chết do héo xanh thấp hơn bón phân đơn rất nhiều. Điều đặc biệt là tỷ lệ củ to gấp 1,5 lần so với bón phân đơn. Mô hình 3ha tại thôn Vinh Hoa vụ đông 2012 đã cho năng suất tăng 14% so với ruộng bón phân đơn. Củ khoai được bón phân Văn Điển mã đẹp dễ bán và được giá, thu lời trên 12 triệu/ha.

    Cùng vụ khoai tây đông 2012 ở 2 xã Nam Hùng, Nam Hoa, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, các đại biểu tham dự hội nghị đầu bờ ngày 5.1.2013 về bón phân đa yếu tố NPK Văn Điển cho cây khoai tây đánh giá: Khoai tây được bón phân đa yếu tố NPK Văn Điển vượt trội hơn bón phân đơn ở các điểm: Số thân trên mỗi khóm cao hơn 1,2 lần, thân mập, lá xanh đậm và dày hơn, sâu bệnh gây hại giảm đến 60%. Số cây chết do bệnh héo xanh rất ít, bộ lá bền đến khi thu hoạch, tỷ lệ củ to chiếm gần 70%. Năng suất tăng hơn 15%, thu lời cao hơn ruộng khoai tây dùng phân đơn trên 13 triệu đồng/ha.

    Trên đất bạc màu xã Việt Hùng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, phân đa yếu tố NPK Văn Điển cũng gây bất ngờ. Các ruộng khoai bón phân đa yếu tố NPK Văn Điển thì số cây chết sau mưa của bão số 8 dưới 8%, các ruộng khoai tây bón phân đơn tỷ lệ cây chết trên 50%. Bà con nông dân nhận xét: Phân bón đa yếu tố rất phù hợp với đồng đất trồng khoai tây ở đây. Với suất đầu tư giá trị tương đương với phân bón đơn nhưng ruộng bón phân đa yếu tố NPK Văn Điển cho lãi cao hơn 10 triệu đồng/ha. Với đặc điểm vượt trội của phân bón đa yếu tố NPK Văn Điển là cung cấp đồng thời, đầy đủ tất cả các chất dinh dưỡng đa lượng, trung lượng, vi lượng cho nên bà con sử dụng phân bón Văn Điển cho cây khoai tây theo hướng dẫn không phải bón thêm bất kỳ loại phân bón nào khác. Sử dụng phân bón Văn Điển mang lại lợi ích thiết thực cho bà con nông dân đã giải quyết được 2 vấn đề tồn tại trong sản xuất là giảm sâu bệnh gây hại và nâng cao năng suất chất lượng cây khoai tây.


    Nông thôn mới – RSS Feed

    Read More

    Tham quan mô hình NTM Hà Nội

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments
    Trong 3 ngày 10, 11 và 12.9.2013, Đoàn cán bộ phụ trách công tác xây dựng nông thôn mới của tỉnh Quảng Ninh gồm 50 người, do ông Trương Công Ngàn – Trưởng ban Xây dựng NTM tỉnh Quảng Ninh dẫn đầu, đã đến một số địa phương tại Hà Nội để tham quan, học hỏi và tìm kiếm cơ hội hợp tác.

    Đoàn đã đến xã Tân Hội, huyện Đan Phượng để tham quan một số mô hình xây dựng NTM; thăm mô hình trang trại lợn sử dụng công nghệ đệm lót sinh học và trại gà trứng sạch ở huyện Ba Vì, mô hình trồng nhãn chín muộn Quốc Oai… Trước khi trở về Quảng Ninh, đoàn đã tham quan một số mô hình chăn nuôi, trồng trọt áp dụng khoa học công nghệ hiện đại tại Đại học Nông nghiệp Hà Nội và làm việc với lãnh đạo nhà trường để tìm kiếm cơ hội hợp tác trong các lĩnh vực xây dựng nông thôn mới như xử lý môi trường, giống cây trồng vật nuôi và xây dựng thương hiệu nông sản…

    Đi cùng đoàn cán bộ của Ban Xây dựng NTM tỉnh Quảng Ninh còn có đại diện lãnh đạo các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trưởng phó các phòng, ban cấp huyện liên quan, cán bộ chuyên trách xây dựng NTM và một số doanh nhân, lãnh đạo hợp tác xã điển hình của tỉnh Quảng Ninh.


    Nông thôn mới – RSS Feed

    Read More
    14 Th9

    Thị trường đầu tưới còn lắm bộn bề

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments chi phí đầu tư cho hệ thống tưới tự động, giá hệ thống tưới tự động, Thị trường thiết bị tưới tự động
    Thiết bị tưới nông nghiệp tự động Nelson R5
    Thiết bị tưới nông nghiệp tự động Nelson R5

    Theo VOV – Thưa quý vị và bà con. Tưới nước cho cây trồng là yếu tố rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. Là một trong những biện pháp thâm canh được nhiều bà con ở vùng cây chuyên canh cây công nghiệp, rau màu, cây ăn trái đặc biệt quan tâm.
    Từ xưa cha ông ta đã có câu “Nhất nước – nhì phân – tam cần – tứ giống”, để tưới nước có hiệu quả cần chọn phương pháp tưới phù hợp với từng loại cây trồng, điều kiện đất đai, điều kiện địa hình và nguồn nước. Hiện nay trước tình trạng biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nguồn nước, chúng ta đang đứng trước một nguy cơ rất lớn, đó là thiếu nước sử dụng cho sinh hoạt và sản xuất. Chính vì thế, ngày càng nhiều hộ nông dân, các trang trại quan tâm hơn tới việc đầu tư một hệ thống tưới tiêu để tiết kiệm nước, tiết kiệm nhân công mà nổi bật là hệ thống tưới phun mưa. Tuy vậy, đây là lĩnh vực mà nhiều bà con nông dân còn cảm thấy mới mẻ bởi vẫn còn tưới theo phương pháp thủ công, truyền thống cũng như không dễ dàng tìm được nhà cung cấp hệ thống thiết bị đồng bộ, chuyên nghiệp.
    Đó là nội dung được phản ánh trong bài “Thị trường thiết bị đầu tưới nông nghiệp lắm bộn bề” của phóng viên chương trình. Mời quý vị và bà con cùng nghe.
    Phương pháp kỹ thuật tưới phun mưa đang được phát triển mạnh trên thế giới, nhất là các nước có nền nông nghiệp phát triển thì kỹ thuật tưới phun mưa đã được sử dụng trên 90% diện tích trồng trọt. Ở Việt Nam những năm gần đây kỹ thuật tưới phun mưa cũng đang được triển khai. Đó là việc sử dụng máy bơm nước cột áp cao, kèm theo ống dẫn và béc phun tạo mưa. Đây là phương pháp tưới hiện đại, có tác dụng ở nhiều mặt, cả về việc tạo độ ẩm cho đất và làm mát cho cây, kích thích sinh trưởng cho cây, và đặc biệt có thể tiết kiệm từ 30-50% khối lượng nước so với phương pháp tưới tràn theo rãnh, tưới vòi phun máy bơm. Năng suất lao động cao do quá trình tưới được tự động hóa, có thể năng suất tăng vài lần so với phương pháp tưới thông thường; đồng thời phương pháp này cho phép dùng phân hóa học, phân bón đã hòa tan trong nước, hoặc phân bón dạng hạt để rải xuống mặt ruộng một cách đều và hiệu quả hơn. Tiết kiệm nước rất nhiều, hệ thống sử dụng nước đạt hiệu suất từ 90-95% và rất có ý nghĩa với vùng hiếm nước hay lấy nước khó khăn. Tưới phun có thể cho phép tưới chính xác vùng diện tích cần tưới với đúng lưu lượng yêu cầu và đảm bảo tính hiệu quả của lượng nước tưới, mặt khác lại thỏa mãn nhu cầu sinh lý của cây trồng về nước cũng như lớp đất có bộ rễ cây hoạt động và bề mặt lá đều được tưới và làm sạch bụi bám, rất hữu ích cho sinh trưởng – phát triển của cây; Điều hòa tiểu khí hậu, chống nóng – lạnh – sương muối cho cây trồng; và có thể thực hiện trên vùng đất dốc, địa hình phức tạp.
    Một số vùng chuyên canh cây công nghiệp, nhất là khu vực miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên đã và đang triển khai phương pháp tưới hiện đại, hiệu quả và tiết kiệm nước cũng như nhiều khoản chi phí phát sinh khác này. Tuy nhiên tìm được nhà cung cấp thiết bị đồng bộ, hiệu quả và chuyên nghiệp thì không đơn giản, nhất là đối với đại đa số các hộ nông dân. Mặt khác do lo ngại chi phí đầu tư ban đầu để đầu tư hệ thống tưới tương đối lớn, đặc biệt nếu sử dụng những thiết bị của những nước tiên tiến, và nguồn cung còn hạn hẹp nên phần lớn bà con mua thiết bị của TQ, ĐL, và cả của Việt Nam ở các chợ, về tự thiết kế, lắp đặt, và đương nhiên sẽ không có dịch vụ hậu mãi đi kèm như đảm bảo độ bền, mật độ tưới, bảo hành – bảo trì.
    Anh Nguyễn Minh Đức, cán bộ tại công ty Nông nghiệp Nhà Bè – Tp. HCM, nhà phân phối chính thức sản phẩm thiết bị đầu tưới hàng đầu thế giới của hãng Nelson Hoa Kỳ kể: “Công ty Bò sữa Tp. HCM có cánh đồng trồng cỏ rộng chừng 200ha ở huyện vùng ven Củ Chi đã sử dụng 50% thiết bị tưới của Trung Quốc nhưng mật độ tưới không đều, nên thiết bị tưới phải xếp ken dày, dẫn tới chi phí đường ống lớn, chi phí đầu tư lên tới 35 triệu / héc ta. Khi công ty nông nghiệp Nhà Bè tới khảo sát và đưa ra giải pháp dùng thiết bị đầu tưới của Nelson theo cự ly 20m mới đặt một thiết bị đầu tưới trong khi thiết bị đang sử dụng thì cứ 8m phải đi một đường ống và đặt một thiết bị tưới, mức chi phí giảm chừng xuống còn 27 triệu trên một héc ta đã bao gồm đầy đủ dịch vụ bao gồm khảo sát – đo đạc – tư vấn – thiết kế – và giám sát đơn vị thi công. Hay một vườn lan ở Củ chi, chủ vườn đã từng đầu tư cho hệ thống tưới tới 8 triệu đồng / 1000m2, mức chi phí rất cao bằng thiết bị tưới Trung Quốc. Với công ty nông nghiệp công nghệ cao, trang trại lớn thì có thể đầu tư được, nhưng đối với hộ nông dân bình thường, bỏ ra 8 triệu đồng / 1000m2 thì là một chi phí rất lớn”. Anh Đức cho biết thêm “Bà con đang gặp nhiều trở ngại trong việc ứng dụng đầu tưới công nghệ cao vào canh tác nông nghiệp, bà con quan niệm đó là một dạng chi phí. Thực ra, công việc tưới diễn ra hàng ngày và tưới theo hình thức nào, thì bà con cũng đều phải chi phí, bỏ tiền dầu, máy bơm, nước, chi phí nhân công, đặc biệt ở những khu vực canh tác lớn, ví dụ như ở khu vực Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ, có những hộ dân canh tác lên tới vài chục héc ta thì đến mùa tưới, bà con gặp rất nhiều khó khăn trong việc thuê mướn nhân công và thậm chí nhân công lúc này rất là cao, đó cũng là những chi phí rất lớn. Trong khi đó, việc áp dụng một hệ thống tưới hiện đại thì đúng là bà con cần thiết phải thay đổi suy nghĩ, đó không phải là chi phí, mà là một nguồn đầu tư, từ việc đầu tư này, sẽ giúp bà con giảm thiểu chi phí phát sinh hàng ngày, hàng năm. Bên cạnh đó, cũng còn rất nhiều những hạn chế khác, đơn cử như việc thị trường của chúng ta hiện tại đang bị thiếu, vì rõ ràng bà con muốn tiếp cận tới một công nghệ tưới tốt, bà con cũng đang gặp khó khăn, những sản phẩm tốt hiện chưa có sẵn trên thị trường, bên cạnh đó hầu hết những sản phẩm chất lượng thấp lại đang tràn ngập thị trường. Chi phí đầu tư một hệ thống tưới của Trung Quốc – Đài Loan, hoặc thậm chí của VN có thể lên tới 50 – 80 triệu thậm chí còn hơn cho mỗi héc ta (bởi những thiết bị này bán kính ngắn, cần nhiều đường ống và công lắp đặt) thì đó quả thực là một trở ngại rất lớn, vì thị trường chưa thực sự mở, thông tin bà con cũng chưa được biết nhiều.”
    Một trong những trở ngại trong việc ứng dụng thiết bị tưới tự động vào canh tác nông nghiệp ở VN nữa là hiện nay năng suất canh tác còn kém, giá trị sau thu hoạch chưa cao, điều kiện tài chính eo hẹp, việc tiếp cận nguồn vốn khó khăn, nên các hộ nông dân, nếu có đầu tư chi thiết bị tưới nông nghiệp thì phần lớn cũng chỉ dừng ở mức chắp vá, không có sự đồng bộ, chính vì vậy sẽ phát sinh chi phí lớn về sau này như chi phí bảo trì, chi phí vận hành, thay thế. Trong khi so sánh việc việc đầu tư cho hệ thống tưới đồng bộ, thiết bị hiện đại của những hãng lớn như Nelson – Hoa Kỳ (được thành lập từ năm 1911 và bắt đầu nghiên cứu, sản xuất thiết bị đầu tưới nông nghiệp từ 1972 tới nay) thì không phải là đắt, mặt khác lại có các chế độ hậu mãi đi kèm, như tư vấn, khảo sát, đo đạc, thiết kế và giám sát thi công đường ống. Chẳng hạn như mới đây, có một hộ nông dân ở Đơn Dương, Lâm Đồng trồng 3000m2 khoai tây nhưng công ty Nông nghiệp nhà bè, đơn vị phân phối đầu tưới Nelson vẫn đi khảo sát, vẽ mô hình, lắp đặt vì theo tiêu chuẩn của Nelson thì mọi khách hàng phải nhận được đầy đủ dịch vụ từ nhà phân phối. Anh Đức chia sẻ “Điểm mạnh của thiết bị tưới tự động Nelson là có khả năng tưới rất đồng đều , dùng công nghệ xoay 360 độ – công nghệ Rotator và khả năng tưới đều 100% trong phạm vi bán kính tưới, kết hợp với đó là khả năng bán kính tưới rất lớn, bán kính phổ biến sử dụng là khoảng từ 12 – 15m, còn loại lớn nhất – dòng Big gun có thể đạt bán kính tưới lên 100m, cũng có những thiết bị bán kính nhỏ hơn phù hợp cho tưới rau, tưới hoa hoặc vườn ươm, tưới nhà kính thì thường có bán kính từ khoảng 5-10m. Từ hai điểm mấu chốt, là tưới đều và bán kính lớn thì sẽ tạo ra một khoảng dãn cách giữa các đầu tưới là tương đối lớn, có thể lên tới 20m. Mặc dù được bố trí xa như vậy, nhưng khả năng tưới giống như một cơn mưa tự nhiên vẫn diễn ra trong phạm vi vùng tưới. Điểm mạnh nữa, đó chính là khả năng hoạt động, áp suất yêu cầu thấp (một máy bơm tưới được nhiều diện tích hơn), lưu lượng vừa phải để khả năng tiếp nhận của đất phù hợp. Đất tiếp nhận nước ở mức 2mm/giờ là phù hợp, thiết bị tưới của Nelson cho lưu lượng nước ở mức 1,5 – 3,8mm/giờ, trong khi đó nếu bà con dùng phương pháp tưới dí (tưới bằng vòi bơm) thì lưu lượng lên tới 8mm/giờ tức gấp 4 lần so với khả năng tiếp nhận, lượng nước dư thừa này sẽ bị trôi đi. Một điểm mạnh nữa của thiết bị tưới Nelson đó là độ bền, người ta đã chứng minh được, độ bền của thiết bị tưới Nelson tương đương với khoảng 10,000 giờ hoạt động liên tục, có thể đạt tới độ bền 20-25 năm. Bên cạnh đó, sự đa dạng về sản phẩm và phụ kiện đi kèm có thể đáp ứng được gần như mọi nhu cầu về tưới nông nghiệp.
    Ngoài ra hiện nay vào mùa khô, các vùng chuyên canh cây công nghiệp ở VN nhất là ở vùng Tây nguyên đang phải đối mặt với tình trạng thiếu nước nghiêm trọng cả nguồn nước mặt cũng như nước ngầm do nhiều nguyên nhân như do biến đổi khí hậu, tình trạng rừng bị chặt phá, xây dựng các công trình thủy điện… Theo một thống kê thì trong 2-3 năm trở lại đây muốn đào một giếng khoan để lấy nước tưới thì bà con phải đào từ 60-70m trong khi đó so với thời gian trước thì chỉ cần đào từ 30-35m theo anh Đức thì đó là ở tầm vĩ mô, ngoài tầm kiểm soát của các hộ nông dân. Tuy vậy có những vấn đề thuộc về tập quán canh tác – tưới tiêu thì bà con có thể thay đổi đó và việc áp dụng một hệ thống tưới nước hiện đại để tiết kiệm nguồn nước. Anh Minh Đức nói thêm, “Có một bài báo đã thống kê, trên Đắk Lắk có tới 73% hộ dân tưới dư nước cho cây cà phê, ví dụ cây cà phê vào mùa khô có thể 20-25 ngày tưới một lần, tuy nhiên nếu có điều kiện thì 15 ngày tưới một và mỗi lần tưới lên tưới khoảng 400 lít nước, đến 500 lít (tùy từng giai đoạn phát triển – con số nêu ra đây là số trung bình). Nhưng thực tế, nhiều bà con tưới lên tới 600 lít, thậm chí lên tới 900 lít hoặc cả 1 khối nước cho mỗi gốc cà phê. Vậy tính ra, mỗi héc ta trồng khoảng 1,000 gốc riêng ở vùng Tây Nguyên có khoảng 550,000 héc ta thì lượng nước cần thiết để tưới cà phê là rất lớn, và tỉ lệ thất thoát, lãng phí nước là rất lớn. Hiện tượng thiếu nước ở Tây nguyên một phần do các hiện tượng tự nhiên, nhưng một phần cũng do hiện tượng tưới nước lãng phí như kể trên. Thực tế, bà con cần định lượng được lượng nước cần tưới cho mỗi gốc cà phê, và tưới trong vòng thời gian bao lâu là đủ, tuy nhiên tưới theo phương pháp truyền thống thì rất khó định lượng. Nguyên nhân này có thể khắc phục được, trên thực tế, khi bà con áp dụng một công nghệ tưới phù hợp sẽ giúp cho việc phân bổ nguồn nước trải đều trong phạm vi cần tưới (phạm vi rễ cây hoạt động), đồng thời giúp cho khả năng tiếp nhận nước của lớp đất mặt một cách từ từ, bà con nên sử dụng một hệ thống tưới phun mưa cho cây cà phê. Đây là phương pháp tưới tạo ra những cơn mưa nhân tạo”.

    Read More

    Dùng Chế phẩm EM xử lý rác thải: Người dân thu lợi ích kép

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments xử, Đan
    Hoạt động này mở ra triển vọng trong việc ứng dụng công nghệ giảm thiểu ô nhiễm môi trường, làm tăng hiệu quả sản xuất…

    Chúng tôi đến gia đình ông Tạ Đăng Phong (thôn Yên Thái) vừa lúc nhà ông vừa ăn xong cơm trưa. Nhanh thoăn thoắt, Tuấn – cháu ông Phong bê mâm bát rồi lấy tay gạt đồ ăn thừa trên mâm cơm cùng vỏ hoa quả, rau thừa vào chiếc xô nhựa rồi cho vào thùng phân loại rác hữu cơ để ngay trước cửa nhà.

    Ông Tạ Đăng Phong rất hài lòng kể từ khi sử dụng chế phẩm EM để xử lý rác thải.

    Ông Tạ Đăng Phong rất hài lòng kể từ khi sử dụng chế phẩm EM để xử lý rác thải.

    Yên tâm sống chung với rác

    “Ngày trước, thùng rác của gia đình tôi để cách nhà cả chục mét để tránh mùi hôi. Khi Hội ND hướng dẫn chúng tôi xử dụng chế phẩm EM xử lý rác, không ngờ vừa hết mùi hôi, rác còn thành phân bón rất tốt cho cây” – ông Phong cho biết.

    Chế phẩm sinh học EM Bokashi là sáng chế từ Nhật Bản, được Việt Nam mua lại từ năm 2006. Đây là công nghệ hàng đầu trên thế giới áp dụng phân loại xử lý rác thải, hỗ trợ phòng ngừa dịch bệnh, giảm thiểu ô nhiễm môi trường bằng chế phẩm sinh học. Công nghệ đã được phổ biến trên 200 quốc gia, trong đó có những quốc gia phát triển như Đức, Mỹ… Giá của chế phẩm chưa đến 40.000 đồng/lít.

    Trung bình mỗi ngày, gia đình ông thải ra?khoảng 13kg rác sinh hoạt, trong đó khoảng 4kg là rác thải hữu cơ. Nếu áp dụng việc xử lý rác thải bằng chế phẩm EM, hàng tháng ông có khoảng 120kg phân hữu cơ để bón cho vườn cây ăn quả, rau của gia đình.

    Không riêng ông Phong, gia đình anh Nguyễn Khắc Bút (thôn Tiền Lệ) cũng rất hào hứng: “Dùng chế phẩm EM góp phần cải thiện môi trường, giảm lượng rác thải trực tiếp, khử mùi hôi. Giờ gia đình tôi yên tâm “sống chung” với rác”. Anh Bút cho biết, trước đây gia đình anh để rác thải tận ngoài đường, nhưng mùi xú uế, hôi thối vẫn theo gió đưa vào nhà. Từ ngày sử dụng chế phẩm EM, gia đình anh đã đặt thùng rác ngay trước cửa ra vào mà môi trường vẫn rất trong lành.

    Triển vọng nhân rộng

    Ông Tạ Đình Hưng – Chủ tịch Hội ND xã Tiền Yên cho biết: Mô hình “Thu gom, phân loại rác tại nguồn và hướng dẫn sử dụng rác thải hữu cơ làm phân bón cho cây trồng” là chương trình thí điểm được Sở Tài nguyên-Môi trường Hà Nội phối hợp với Hội ND thành phố triển khai ở 100 hộ dân. Theo Sở Tài nguyên-Môi trường Hà Nội, trung bình mỗi ngày khu vực ngoại thành Hà Nội thải ra môi trường khoảng 2.316 tấn rác thải sinh hoạt, Trong đó, rác hữu cơ chiếm khoảng 40-53%. Chưa đầy 1 tháng sau khi triển khai, mô hình điểm đã mang lại hiệu quả trong việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Nhiều hộ không tham gia dự án đã đến học hỏi, đề nghị mua chế phẩm EM để phun khử khuẩn chuồng trại, xử lý rác thải tại gia đình.

    Quy trình thực hành
    Chế phẩm EM pha trộn cùng mật rỉ đường (hoặc đường) và nước theo tỷ lệ 1.1.18 (1 lít chế phẩm pha với 1 lít rỉ mật hoặc đường cộng với 18 lít nước). Tập kết và phân loại rác thải hữu cơ và vô cơ => tách riêng rác thải hữu cơ => đổ đều dung dịch hỗn hợp nước chế phẩm đã pha sẵn lên mặt rác (cứ 20cm đổ một lần nước hỗn hợp EM) => chôn lấp ủ rác thải => tạo thành phân hữu cơ => bón cho cây trồng => tạo ra rác hữu cơ (quy trình khép kín).

    Theo ông Lê Khắc Quảng – Giám đốc Trung tâm Phát triển công nghệ Việt-Nhật thì việc sử dụng chế phẩm EM Bokashi khá đơn giản, nhưng hiệu quả cao, có khả năng nhân rộng. Không chỉ giảm thiểu ô nhiễm môi trường, phân loại rác thải, khủ mùi hôi của rác thải mà công nghệ này còn góp phần giảm tải lượng rác thải, phân hoá rác thải thành phân hữu cơ để phát triển cây trồng sạch. Mô hình rất phù hợp với những khu, chăn nuôi gia súc, gia cầm, hoặc trồng rau, trồng cây ăn quả… ở trang trại tập trung.

    “Không chỉ dùng xử lý rác thải, chế phẩm EM còn được một số quốc gia ứng dụng trong việc khử khuẩn nguồn nước thải, thanh lọc ao hồ, sông suối bị nhiễm bẩn sau mưa bão, lũ lụt. Việc hoà chế phẩm EM trong nước và phun dưới dạng sương trong các khu chuồng trại còn góp phần khử khuẩn, ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh trong chăn nuôi”- ông Quảng cho biết.


    Nông thôn mới – RSS Feed

    Read More

    Triển khai cánh đồng mẫu lớn, cánh đồng liên kết: Nông dân mê, doanh nghiệp ngại

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments mẫu, Đan, đồng
    Nông dân thấy rõ lợi ích

    Ông Nguyễn Ngọc Hải có 2ha trồng lúa cao sản ở huyện Ô Môn, TP.Cần Thơ cho rằng, cánh đồng liên kết là một mô hình ưu việt vì chỉ có liên kết tập thể, liên kết ngang với nông dân thì DN mới thu mua dễ dàng những chủng loại gạo cần cho xuất khẩu với số lượng lớn, chất lượng đồng đều.

    Việc tham gia cánh đồng liên kết, cánh đồng mẫu lớn với nông dân cũng giúp DN dễ dàng hơn trong việc đầu tư cho một giống lúa nào đó mà thế giới ưa chuộng để xây dựng thương hiệu lúa gạo. “Mua qua thương lái thì họ thường pha trộn nên chất lượng gạo không đồng đều, DN không thể truy xuất nguồn gốc, khó cho việc đăng ký thương hiệu” – ông Hải phân tích.

    Về phía nông dân cũng có được nhiều lợi ích khi tham gia cánh đồng lớn, cánh đồng liên kết. Chị Lê Thị Thu Hằng ở Châu Phú, Đồng Tháp cho biết, chi phí sản xuất khi tham gia cánh đồng lớn hay cánh đồng liên kết giảm hơn từ 2,5 – 3 triệu đồng/ha so với việc gia đình tự làm. Do nông dân được DN đầu tư giống lúa tốt, năng suất cao; cung cấp phân bón, thuốc bảo vệ thực vật với giá gốc; việc sử dụng cơ giới hóa trong cải tạo đất hay thu hoạch cũng thuận lợi và giá rẻ hơn, giảm được thất thoát sau thu hoạch. Chưa kể là giá lúa DN thu mua luôn bằng hoặc cao hơn thị trường từ 100 – 250 đồng/kg. Chính vì thế nông dân khá hăng hái khi tham gia mô hình này.

    Nông dân hăng hái tham gia cánh đồng lớn trong khi doanh nghiệp thì ngán ngại.

    Nông dân hăng hái tham gia cánh đồng lớn trong khi doanh nghiệp thì ngán ngại.

    “Thú thật thời gian gần đây xuất khẩu khó khăn, giá cả bấp bênh, nông dân chúng tôi cũng chỉ mong có được DN bao tiêu để có đầu ra ổn định. Chúng tôi sẵn sàng chia sẻ khó khăn với DN, chỉ cần lãi 10 – 15% cũng được chứ không cần 30% như Chính phủ đặt ra” – ông Huỳnh Văn Sơn, nông dân trồng lúa ở Thạnh Hóa, Long An khẳng định.

    Doanh nghiệp lo

    Cùng với động thái từ Bộ Công Thương, Bộ trưởng Bộ NNPTNT Cao Đức Phát cũng vừa ký ban hành Chỉ thị 1965/CT-BNN-TT về việc đẩy mạnh liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản theo mô hình “Cánh đồng mẫu lớn”. Bộ NNPTNT cho rằng trong tình hình xuất khẩu khó khăn như hiện nay, việc đẩy mạnh liên kết trong sản xuất và tiêu thụ giữa nông dân và DN trong cây lúa hay những cây, con khác sẽ giúp những nông hộ nhỏ lẻ, địa phương và DN nhận thức được sức mạnh tập thể, ý thức được trách nhiệm đối với chất lượng sản phẩm chung của cộng đồng. Từ đó góp phần giữ gìn uy tín thương hiệu và không ngừng cải tiến trong sản xuất để giảm giá thành, nâng cao giá trị sản phẩm nhằm đạt hiệu quả cao trong sản xuất để có thể cạnh tranh với các nước, vươn ra thị trường thế giới.

    Bộ NNPTNT đang soạn dự thảo đưa ra mức hỗ trợ cho DN xây dựng đồng ruộng 15 triệu đồng/ha, hỗ trợ xây dựng đường giao thông, nguồn nước tưới hoặc hỗ trợ 50% chi phí đầu tư xây dựng…

    Trong khi đó, phía các DN xuất khẩu gạo lại thấy mình như đang bị “ép” để làm. Bởi trong những lần trả lời báo chí trước đây, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) Trương Thanh Phong từng thẳng thắn đặt câu hỏi ngược lại là tại sao DN xuất khẩu gạo phải lo vùng nguyên liệu? Các DN đi bán thuốc trừ sâu, phân bón khi có vùng nguyên liệu thì người ta có lợi quá vì họ bán thuốc, bán phân còn DN xuất khẩu gạo lấy gì mà bán? Trong Nghị định 109 về điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo cũng không nêu yêu cầu này. Có thể yêu cầu các DN xuất khẩu gạo đặt hàng và ký hợp đồng mua gạo ở các hợp tác xã hoặc các tổ chức nào đó. Và khi DN đặt hàng mà không mua thì cần phải xử lý theo đúng hợp đồng.

    Ông Lâm Anh Tuấn – Giám đốc Công ty Thịnh Phát (Bến Tre) cũng lo âu không kém trước yêu cầu này của Bộ Công Thương và Bộ NNPTNT: “Chúng tôi hiện lo kiếm tiền để mua lúa gạo xuất khẩu đã khốn khổ rồi, lấy tiền đâu mua giống, thuê đất, kỹ sư,… đến chăm sóc lúa. Đây lại không phải là chuyên môn của chúng tôi. Không thể bắt chúng tôi làm ngay được mà phải có lộ trình thực hiện”.

    Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh khẳng định: “Chúng tôi đã xác định đây là nhiệm vụ nặng nề nên cần có lộ trình cụ thể để DN thực hiện. Bên cạnh đó cũng sẽ có những ưu tiên hỗ trợ của Nhà nước cho các DN xây dựng vùng nguyên liệu hoặc thực hiện hợp tác, đặt hàng, liên kết với hộ nông dân trồng lúa, chứ không phải chỉ có chế tài”.


    Nông thôn mới – RSS Feed

    Read More

    Lấy nông nghiệp làm điểm tựa

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments làm, điểm
    Là xã miền núi duy nhất của huyện Quế Sơn (Quảng Nam), điều kiện phát triển kinh tế còn nhiều khó khăn so với các địa phương khác, Quế Phong đã lấy lợi thế sản xuất nông nghiệp tạo đà cho việc xóa đói giảm nghèo và nâng cao đời sống người dân, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu xây dựng nông thôn mới (NTM).

    Xuất phát điểm thấp

    Ông Phạm Hồng Ân – Chủ tịch UBND xã Quế Phong cho biết: Trước đây Quế Phong là vùng căn cứ địa cách mạng, chiến tranh qua đi để lại bao mất mát, làng quê bị tàn phá nặng nề, nhà cửa tan hoang, đời sống nhân dân hết sức cơ cực… Bên cạnh đó, Quế Phong là xã miền núi nên có xuất phát điểm khá thấp, điều kiện phát triển kinh tế – xã hội hết sức khó khăn, giao thông đi lại cách trở, việc quy hoạch để phát triển thương mại dịch vụ và công nghiệp không thể triển khai thực hiện được… “Chính vì vậy mà chúng tôi luôn trăn trở phải làm sao tìm giải pháp và chọn hướng đi cho phù hợp nhất với điều kiện của địa phương để đưa nền kinh tế phát triển đi lên, từng bước xóa đói giảm nghèo và nâng cao đời sống của người dân”- ông Ân chia sẻ.

    Theo ông Ân, khó khăn là vậy, nhưng Quế Phong đã phát huy truyền thống cách mạng của mình và toàn Đảng, toàn dân đoàn kết một lòng tập trung hàn gắn vết thương chiến tranh, quyết tâm ra sức thi đua tăng gia sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng… xây dựng quê hương tươi đẹp và bộ mặt nông thôn ngày càng thay đổi một cách nhanh chóng.

    Chú trọng chuyển đổi cơ cấu cây trồng

    Là một xã thuần nông, với gần 90% dân số sống bằng nông nghiệp, trong khi đó vùng đất Quế Phong chủ yếu là đồi, gò… nên việc phát triển cây lúa sẽ không hiệu quả. Để góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế, tạo đà cho xây dựng NTM, những năm gần đây Quế Phong rất chú trọng đến việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở những vùng đồi núi, hoặc những nơi không chủ động được nước sang trồng các loại cây cho hiệu quả kinh tế cao hơn, trong đó cây keo, cây sắn… được chọn là cây chủ lực của địa phương. Tuy vậy, một số địa phương có điều kiện vẫn phải dựa vào cây lúa và các loại cây hoa màu khác.

    Ông Ân cho biết thêm, thời gian qua kinh tế rừng và kinh tế gia trại, trang trại ở Quế Phong đang phát triển khá tốt, hiện xã có gần 1.200ha rừng, trong đó diện tích đất rừng sản xuất trên 550ha được trồng cây keo, diện tích còn lại là rừng thuộc các dự án khác do người dân nhận quản lý. Quế Phong cũng là nơi phát triển cây sắn khá tốt, với diện tích trên 350ha… Bên cạnh cây keo, cây sắn thì Quế Phong cũng đang triển khai các mô hình kinh tế gia trại để phát triển chăn nuôi gà, lợn… Nhất là xã đang đẩy mạnh phát triển đàn bò, trâu, dê…

    Theo đánh giá của ông Ân, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng và đẩy mạnh phát triển cây, con… trong thời gian qua đã góp phần tích cực trong việc nâng cao thu nhập cho người dân, đồng thời thúc đẩy tốt quá trình xây dựng NTM của Quế Phong trong những năm qua và các năm tiếp theo. Theo ông Ân, mặc dù hiện nay Quế Phong không phải là xã điểm về xây dựng NTM, nhưng đến nay địa phương đã đạt được 5/19 tiêu chí (Quy hoạch, Bưu điện, Y tế, Hệ thống chính trị và An ninh chính trị), phấn đấu đến năm 2015 đạt thêm 5 – 6 tiêu chí nữa và đến năm 2020 Quế Phong cơ bản trở thành xã NTM. Tuy nhiên, để hoàn thành theo đúng lộ trình xây dựng NTM mà Quế Phong đặt ra, ngoài sự nỗ lực của chính quyền địa phương, sự đóng góp của cộng đồng, người dân thì một xã khó khăn như Quế Phong, rất cần sự quan tâm hỗ trợ nhiều hơn nữa về nguồn vốn để đầu tư cơ sở hạ tầng, đồng thời hỗ trợ đào tạo nghề lao động nông thôn…


    Nông thôn mới – RSS Feed

    Read More

    Doanh nghiệp lùng mua cà phê

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments cà phê được giá, doanh nghiệp lùng mua cà phê, Giá cà phê

    Giá cà phê nhân đang dao động ở mức trên dưới 37.000 đồng/kg nên một số doanh nghiệp xuất khẩu cà phê có nguồn tài chính mạnh đang tìm cách mua vào để tạm trữ trong kho, chờ giá lên bán kiếm lời.

    Người trồng cà phê đang lo lắng giá cà phê sẽ tiếp tục giảm một khi vào vụ chính. Ảnh: Ngọc Hùng

    Ông Nguyễn Thịnh, quản trị viên trang giá cà phê-trang thông tin chuyên cung cấp giá cả cà phê trong nước và quốc tế cho biết, khác với mọi năm vào thời điểm cuối vụ cà phê cũ chuẩn bị vào

    Cà phê tăng giá
    Doanh nghiệp lùng mua cà phê
    vụ cà phê mới giá cà phê luôn tăng và ở mức cao nhưng năm nay chiều hướng lại trái ngược hoàn toàn khi giá không tăng mà còn có xu hướng giảm.

    Cụ thể, ngày 6-9 giá mua cà phê ở Đắk Lắk là 36.800-37.200 đồng/kg, không thay đổi so với ngày 5-9 nhưng lại giảm 200 đồng/kg so với hai ngày trước đó. Các doanh nghiệp cho rằng diễn biến đứng giá này đang có lợi cho việc thu mua và đây là thời điểm tốt để những doanh nghiệp có nguồn tài chính mạnh tìm cách mua vào tạm trữ trong kho.

    Đại diện một doanh nghiệp xuất khẩu cà phê tại Đắk Lắk (không muốn nêu tên) cho biết, do giá cà phê trên thị trường xoay quanh mức 37.000 đồng/kg nên doanh nghiệp ông tung ra một lượng tiền khá lớn để mua vào nhưng lại không có nhiều nguồn hàng để mua.

    Theo vị này, cũng có thể do vào thời điểm cuối vụ cà phê, người dân, doanh nghiệp đã bán hết cà phê, nên không còn hàng. Doanh nghiệp của ông này không đặt mục tiêu phải mua được bao nhiên tấn cà phê mà cố gắng mua được càng nhiều càng tốt.

    Ông H.D, một đại lý thu mua cà phê ở Di Linh, Lâm Đồng cho biết, hiện đại lý của ông đang có đơn hàng từ một doanh nghiệp xuất khẩu cà phê có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chấp nhận trả chiết khấu hoa hồng khá cao để mua cà phê cho họ.

    “Do thời điểm cuối vụ cà phê, lượng cà phê còn trong dân không nhiều kèm theo đó là giá cà phê đang ở mức thấp nên để mua được tôi chấp nhận tăng thêm vài giá so với giá trên thị trường để thuyết phục người ta bán cho mình”, ông nói.

    Theo ông Thịnh, ở khu vực Đắk Lắk tại kho hàng của nhiều doanh nghiệp vẫn còn một lượng cà phê khá lớn nhưng giá thấp nên chưa muốn bán ra. Một lý do khác để doanh nghiệp các doanh nghiệp nói trên không có hàng để mua là do mấy tháng trước có nhiều doanh nghiệp, đại lý đã mua vào dự trữ ở mức giá từ 40.000-45.000 đồng/kg nhưng nay ở mức giá thấp nên trữ lại chưa muốn bán ra.

    Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, trong 8 tháng của năm 2013, Việt Nam đã xuất khẩu 974.000 tấn, giá trị 2,09 tỉ đô la Mỹ. Trước đây, nguồn dự báo của Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam (Vicofa) và các chuyên gia trong ngành cho rằng, vụ cà phê 2012/2013 sản lượng cà phê của Việt Nam ở mức quanh con số 1,5 triệu tấn.

    Khi nhận xét về vấn đề này, các chuyên gia trong ngành cho rằng, từ logic trên có thể suy ra trên thị trường còn khoảng 500.000 tấn nhưng không thể biết bao nhiêu nằm trong kho các công ty xuất khẩu cà phê và còn lại ở trong người dân. Do đó, những con số về lượng cà phê còn chưa xuất của Việt Nam chỉ mang tính tham khảo hơn là một con số thống kê để làm cơ sở dự báo giá tăng hay giảm theo nguyên lý cung cầu.

    Ông Nguyễn Văn Hiển, Lâm Hà, Lâm Đồng cho biết, khoảng hơn một tháng nữa gia đình ông sẽ bắt đầu vào vụ chính thu hoạch cà phê nhưng giá cà phê quá thấp nên thấy lo vì có thể vào chính vụ giá cà phê có giảm nữa.
    Tại một địa phương khác là Quảng Trị, nơi có diện tích trồng cà phê arabica lớn của Việt Nam hiện đang có thông tin, do giá cà phê đang ở mức thấp nên nhiều người dân trồng cà phê aribica ở Quảng Trị bỏ mặc, không muốn chăm sóc vườn cà phê của họ.

    Trao đổi với Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online qua điện thoại, ông Hồ Vương, Giám đốc Công ty THNN Vương Thái tại Hướng Hóa, Quảng Trị cho biết, hiện giá cà phê arabica mà công ty đang mua ở mức 50.000 đồng/kg, giảm khoảng 20.000 đồng/kg so với thời điểm này của năm 2012.

    Read More
    Tiến sĩ Lê Ngọc Báu
    12 Th9

    Cây cà phê đang chịu oan

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments diện tích cà phê tây nguyên, Tưới nước cho cây cà phê

    QĐND – Không chỉ phát triển nhanh nhất thế giới, với sản lượng hơn 1,5 triệu tấn/năm, tức 2,3-2,5 tấn/ha/năm, cà phê Việt Nam có năng suất gấp 3 lần năng suất bình quân của thế giới… Cây cà phê đã trở thành một trong những mũi nhọn phát triển kinh tế ở khu vực Tây Nguyên. Tuy nhiên, xung quanh nó cũng còn những hệ lụy.

    Chúng tôi đã có cuộc đối thoại với TS Lê Ngọc Báu, Viện trưởng Viện Khoa học kỹ thuật nông-lâm nghiệp Tây Nguyên, xung quanh câu chuyện cây cà phê ở Tây Nguyên.

    Phóng viên (PV): Cây cà phê đã thực sự trở thành cây “xóa đói giảm nghèo” ở Tây Nguyên. Tuy nhiên, trong những năm qua, việc phát triển quá nhanh diện tích trồng cà phê đã gây ra những hệ lụy. Trong đó, đặc biệt là việc trở thành một trong những tác nhân gây nên tình trạng khan hiếm nước vào mùa khô ở Tây Nguyên, thưa ông?

    TS Lê Ngọc Báu: Ngành cà phê chịu oan cũng nhiều! Thiếu nước, người ta đổ cho cà phê. Phá rừng, người ta cũng đổ cho cà phê. Nhưng theo tôi, ở Tây Nguyên, nếu không có 550.000ha cà phê này thì bộ mặt chắc không được như hiện nay. 550.000ha cà phê tạo ra gần 1 triệu việc làm cho người Tây Nguyên, trong khi dân số Tây Nguyên hơn 5 triệu người.

    Thứ hai, mình cứ kêu thiếu nước tưới, tại sao Nhà nước không đầu tư cho thủy lợi để phát triển cây cà phê một cách bền vững. Trong khi, nhu cầu nước tưới của cây cà phê không cao, chưa bằng 20% so với lúa nước. Cây cà phê mỗi năm cần tưới khoảng 2000m3/ha, tương đương với lượng mưa 200ml trong một năm. Trong khi lượng mưa ở Tây Nguyên bình quân 1.800-2000ml/năm. Nếu có hồ, đập giữ lại chỉ cần 10% lượng nước mưa đó thì đã bảo đảm được nước tưới cho cây cà phê. Hiện ở Tây Nguyên, mình đang đầu tư cho thủy điện nhiều, trong khi thủy lợi còn hạn chế.

    PV: Ngoài vấn đề nước tưới, sự phát triển ồ ạt cây cà phê đang phá vỡ quy hoạch đã được phê duyệt. Hơn nữa, dù thu được sản lượng cao, nhưng chất lượng của cà phê Việt Nam vẫn thấp. Thưa ông, vì sao?

    Tiến sĩ Lê Ngọc Báu
    Tiến sĩ Lê Ngọc Báu

    TS Lê Ngọc Báu: Quy hoạch đang gây ra một số vấn đề. Thứ nhất, nông dân trồng cây cà phê ở những vùng đất không phù hợp như xa nguồn nước. Thứ hai, trong thập niên 1990, mình phát triển hơn 400.000ha cà phê, lúc đó chưa có những giống mới, chủ yếu do nông dân tự chọn lọc. Họ cứ thấy cây nào năng suất cao là trồng, lại không đúng quy trình kỹ thuật. Thành thử, hiện nay hơn 80% diện tích cà phê có giống không tốt. Đi sâu vào chi tiết, cây cà phê vốn là cây thụ phấn chéo bắt buộc, nghĩa là nó phải nhận phấn của cây khác mà nông dân không biết cái đó, cứ lấy cây nào năng suất cao hái quả làm giống. Như thế, nông dân chỉ chọn được cây mẹ tốt còn phấn của cây bố thì họ không biết.

    Thứ nữa, do tình hình an ninh chưa bảo đảm, nông dân có tâm lý muốn thu hoạch cùng lúc, quả chín, quả xanh đều đem về nhà cho chắc ăn, “xanh nhà hơn già đồng”. Cây cà phê, hay bất kỳ cây gì mà quả chưa chín thì không thể có chất lượng cao. Cái đó sẽ ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm.

    Mặt khác, tập quán thu hoạch ồ ạt gây nên tình trạng thiếu lao động. Trước đây, mùa thu hoạch, người làm thuê ở các tỉnh Bình Định, Phú Yên… lên đây nhiều nhưng giờ dưới đó đã phát triển kinh tế, họ ít lên. Thiếu lao động cũng là nguyên nhân của việc hái xanh. Ví dụ hái chín, hái được 1 tạ/ngày công. Hái xanh được 2 tạ/công. Trong khi giá nhân công bình thường 120.000 đồng/công, đến mua thu hoạch lên tới 150.000 đồng rồi còn phải lo ăn, lo ở…

    Thứ nữa, theo chính sách thu mua cà phê hiện nay, bất kể xanh chín cứ phơi khô là bán giá cơ bản như nhau. Trong khi, hái chín chi phí nhiều hơn 70-80%. Chế độ thu mua hiện nay không khuyến khích người nông dân thu hoạch quả chín hoặc tạo ra sản phẩm có chất lượng cao.

    Việc thu hái quả xanh không phải là vấn đề kỹ thuật. Nông dân biết, nhà khoa học đã nghiên cứu, chính quyền biết nhưng mấy thập kỷ nay vẫn không thay đổi. Không những thế, ngày càng có xu thế thu hoạch quả xanh nhiều hơn.

    Thu hoạch quả xanh mang tới một số hệ lụy. Thứ nhất, nếu thu theo tiến độ quả chín, sẽ có đủ sân phơi. Nếu thu một lần, sẽ không ai có đủ sân phơi. Thế là, phải phơi dày, hoặc cứ để trong bao cho mục bớt vỏ đi, rồi đem phơi cho nhanh. Như thế làm sao có chất lượng cao.

    Một thương hiệu mạnh chỉ phát triển và tồn tại trên cơ sở chất lượng cao. Anh có chất lượng cao chưa chắc đã có thương hiệu mạnh. Nhưng không có chất lượng cao thì sẽ không thể có thương hiệu mạnh. Cốt lõi vấn đề là, nông dân phơi dày, thiếu sân phơi, chất lượng không thể cao. Hơn nữa, năm nào, mùa thu hoạch, thời tiết khô, chất lượng còn tốt. Năm nào cuối tháng 11, tháng 12 bão mấy trận, mưa dầm dề chắc chắn chất lượng sẽ thấp. Thu hoạch phải phụ thuộc vào thời tiết thì chất lượng sẽ không ổn định.

    PV: Trong thời gian gần đây, vấn đề tái canh cây cà phê đang rất được quan tâm. Bởi đó là một phần quan trọng của tương lai cây cà phê Việt Nam. Là người trực tiếp nghiên cứu, sản xuất cà phê, theo ông, vấn đề đã đến mức cấp thiết?

    TS Lê Ngọc Báu: Một vấn đề bây giờ đang đặt ra, tuy chưa thật gay gắt, nhưng 5-7 năm nữa sẽ thành vấn đề rất lớn, nếu bây giờ không giải quyết. Đó là những diện tích cà phê trồng từ năm 1990 đến nay đã là 23 năm. Trồng năm 1993 đã là 20 năm. Trồng năm 2000 giờ cũng đã là 13 năm. Đời sống cây cà phê có thể kéo dài hàng trăm năm, nhưng giai đoạn sung sức nhất chỉ từ năm thứ 5 đến năm thứ 15. Trên 25 năm cây cà phê sẽ già cỗi, năng suất thấp, sức đề kháng thấp, sâu bệnh sẽ phát triển. Tuổi thọ cây cà phê ở ta thấp hơn thế giới vì được đầu tư thâm canh, tăng năng suất cao quá.

    Tới năm 2020, rất nhiều diện tích cà phê có tuổi thọ tới 20-30 năm. Nếu giờ không có kế hoạch tái canh thì rất đáng báo động. Đã có nhiều hội thảo, báo chí lên tiếng về vấn đề này nhưng vẫn chưa có chính sách cụ thể. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đã có hành động như Ban hành quy trình hướng dẫn kỹ thuật tái canh cà phê, nhưng chưa đủ. Quy trình chỉ mang tính chất hướng dẫn, không bắt buộc, người ta muốn theo thì theo, không theo thì thôi.

    PV: Theo ông, cần làm gì để chương trình tái canh cây cà phê đạt hiệu quả cao?

    TS Lê Ngọc Báu: Theo tôi, nên tập trung hỗ trợ tập huấn, đào tạo, tuyên truyền để cho nông dân biết quy trình đúng. Thứ hai, hỗ trợ những giống tốt nhất cho nông dân. Theo tính toán, chi phí 1ha tái canh mất khoảng 120 triệu đồng trong 3 năm. Trong khi, nếu hỗ trợ cây giống chỉ mất khoảng 3 triệu đồng, mà nông dân lại có được giống tốt. Thêm nữa, nên tạo điều kiện cho nông dân vay vốn ưu đãi, dài hạn. Theo tôi, nông dân tái canh cây cà phê rất dễ vay vốn vì họ đã có vườn cây, có nhà cửa, coi như một tài sản thế chấp rất bảo đảm.

    PV: Cảm ơn ông!

    HUY QUÂN – VĂN HẠNH (thực hiện)

    Read More

    Vĩnh Phúc: Tập huấn kỹ thuật thâm canh cây bí đỏ F1-868 vụ Đông 2013

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments Vĩnh, vụ, Độ, đồng

    Vĩnh Phúc: Tập huấn kỹ thuật thâm canh cây bí đỏ F1-868 vụ Đông 2013

    (Mard – 10/9/2013) – Ngày 5/9/2013, tại Hội trường UBND xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tường, Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Vĩnh Phúc tổ chức lớp tập huấn kỹ thuật thâm canh cây bí đỏ F1-868 vụ Đông năm 2013.

    Tham dự lớp tập huấn có phòng Nông nghiệp & PTNT huyện, đại diện UBND xã, các cán bộ phụ trách nông nghiệp và gần 100 hộ dân tham gia mô hình bí đỏ.
    Đây là lớp tập huấn đầu tiên thuộc chương trình hỗ trợ phát triển trồng trọt sản xuất hàng hóa vụ Đông năm 2013 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc. Các hộ dân tham gia mô hình sẽ được tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh trên cây bí đỏ.
    Dự kiến trong thời gian tới Trung tâm sẽ tiếp tục triển khai 5 lớp tập huấn nữa cho 500 nông dân của các xã: Việt xuân, Thị trấn Vĩnh Tường – huyện Vĩnh Tường; xã Tề Lỗ – huyện Yên Lạc và xã Liên Hòa, Đồng Ích – Lập Thạch.
    Việc tập huấn kỹ thuật trước mùa vụ đã giúp bà con nắm vững quy trình chăm sóc, biết cách phòng ngừa sâu bệnh kịp thời để mang lại năng suất cao.

    Theo Trung Tâm Khuyến Nông Vĩnh Phúc.


    Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

    Read More

    Ninh Bình: Kết quả bước đầu về ' Tam nông'

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments về, đấu

    © Giấy phép cung cấp thông tin trên Internet (ICP) số 217/GP-BC cấp ngày 07/12/2005

    Phiên bản xây dựng trên nền MOSS 2007

    Chịu trách nhiệm chính: Ông Nguyễn Viết Chiến-Trưởng Ban biên tập Trang tin điện tử – Số 2, Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội

    Điện thoại Ban biên tập: (04) 7341635(205) Fax: (04) 8235618 E-mail: trangtin@mard.gov.vn

    Ghi rõ nguồn “Agroviet.gov.vn” khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này.


    Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

    Read More
    • Prev
    • 1
    • 2
    • …
    • 30
    • 31
    • 32
    • 33
    • 34
    • …
    • 37
    • 38
    • Next

    VẬN CHUYỂN

    Toàn quốc

    KHUYẾN MẠI

    & Quà tặng

    LIÊN HỆ

    0917 367 763

    UY TÍN

    & Chất lượng

    Cửa hàng

    • Hướng dẫn lắp đặt
    • Hỏi đáp
    • Ứng dụng mô hình tưới
    • Tin nông nghiệp
    • Tuyển dụng
    • Catalogue
    • Tin Nông Nghiệp
    • Ứng Dụng Mô Hình Tưới
    • Tuyển dụng
    • Tưới nông nghiệp
    • Thư viện
    • Giới thiệu

    Thông tin

    • Giới thiệu
    • Tin tức
    • Đội ngũ nhân viên
    • Làm đại lý phân phối
    • Chúng tôi đại diện cho
    • Liên hệ

    Hỗ trợ

    • Giao nhận hàng hóa
    • Thanh toán
    • Hướng dẫn mua hàng
    • Trả & đổi hàng
    • Chính sách bảo hành
    • Chính sách bảo mật thông tin

    Tài khoản

    • Giới thiệu
    • Video
    • Liên hệ
    • Tưới phun mưa
    • Tưới nhỏ giọt
    • Tưới cảnh quan
    • Tưới phun sương

    LIÊN HỆ MINH VŨ CO., LTD

    • 85. Nguỵ Như Kon Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
    • Email : minhvu1014@gmail.com
    • Điện thoại : 04 322 168 01

    CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG MINH VŨ

    © 2013-2017 All Rights Reversed.

    Close
    Sign in Or Register
    Forgot your password?

    NEW HERE?

    Registration is free and easy!

    • Faster checkout
    • Save multiple shipping addresses
    • View and track orders and more
    Create an account
    X
    • Menu
    • Categories
    • Trang chủ
    • Cửa hàng
      • Tài khoản
        • Cập nhật tài khoản
        • Cập nhật địa chỉ
        • Xem đơn hàng
        • Quên mật khẩu
      • Thanh toán
    • Tưới nông nghiệp
      • Hướng dẫn lắp đặt
      • Tư vấn chọn thiết bị tưới
      • Ứng dụng mô hình tưới
      • Tin nông nghiệp
      • Câu hỏi thường gặp
    • Thư viện
      • Video
      • Catalogue
    • Liên hệ
    • Tưới phun mưa
      • Béc tưới Ducar
      • Đầu tưới Rivulis
      • Béc tưới Nelson USA
      • Xe tưới tự cuốn Irrifrance
      • Béc tưới Đài Loan
      • Dây tưới phun mưa
    • Tưới nhỏ giọt
      • Dây (ống) tưới nhỏ giọt
        • Tưới nhỏ giọt DiG
        • Rivulis Israel
        • Tưới nhỏ giọt Seowon
      • Đầu tưới nhỏ giọt
      • Ống PE
      • Thiết bị lọc
      • Thiết bị châm phân
      • Phụ kiện ống PE
        • Phụ kiện ống 6mm
        • Phụ kiện ống 12mm
        • Phụ kiện ống 16mm
        • Phụ kiện ống 17mm
        • Phụ kiện ống 20mm
        • Phụ kiện ống 25mm
      • Phụ kiện tưới nhỏ giọt khác
    • Tưới cảnh quan
      • DIG USA
      • Cellfast
      • Hunter USA
    • Tưới phun sương
    • Van điện tử, bộ hẹn giờ
    • Ống nước – phụ kiện
    • Bơm nông nghiệp