Tài khoản

  • Giỏ hàng
  • Thanh toán
  • Tài khoản
  • Login
Giải pháp tưới tự động tối ưu trong nông nghiệp. Tưới nhỏ giọt - phun mưa - phun sương.
Tưới Nông Nghiệp Tự Động
  • Trang chủ
  • Cửa hàng
    • Tài khoản
      • Cập nhật tài khoản
      • Cập nhật địa chỉ
      • Xem đơn hàng
      • Quên mật khẩu
    • Thanh toán
  • Tưới nông nghiệp
    • Hướng dẫn lắp đặt
    • Tư vấn chọn thiết bị tưới
    • Ứng dụng mô hình tưới
    • Tin nông nghiệp
    • Câu hỏi thường gặp
  • Thư viện
    • Video
    • Catalogue
  • Liên hệ
0964 824 106 / 0917367763
Email: minhvu1014@gmail.com
All Departments
  • Tưới phun mưa
    • Béc tưới Ducar
    • Đầu tưới Rivulis
    • Béc tưới Nelson USA
    • Xe tưới tự cuốn Irrifrance
    • Béc tưới Đài Loan
    • Dây tưới phun mưa
  • Tưới nhỏ giọt
    • Dây (ống) tưới nhỏ giọt
      • Tưới nhỏ giọt DiG
      • Rivulis Israel
      • Tưới nhỏ giọt Seowon
    • Đầu tưới nhỏ giọt
    • Ống PE
    • Thiết bị lọc
    • Thiết bị châm phân
    • Phụ kiện ống PE
      • Phụ kiện ống 6mm
      • Phụ kiện ống 12mm
      • Phụ kiện ống 16mm
      • Phụ kiện ống 17mm
      • Phụ kiện ống 20mm
      • Phụ kiện ống 25mm
    • Phụ kiện tưới nhỏ giọt khác
  • Tưới cảnh quan
    • DIG USA
    • Cellfast
    • Hunter USA
  • Tưới phun sương
  • Van điện tử, bộ hẹn giờ
  • Ống nước – phụ kiện
  • Bơm nông nghiệp
0
There are 0 item(s) in your cart
    Subtotal: 0 ₫
    View Cart
    Check Out
    • Home
    • Tin nông nghiệp

    Chuyên mục

    Bài viết mới nhất

    • Chi Phí Lắp Đặt Hệ Thống Tưới Phun Mưa Cục Bộ Cho Cây Cam
    • ĐẦU TƯỚI PHUN MƯA RONDO
    • CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG MINH VŨ Tham Gia Triển Lãm Growtech
    • Kỹ thuật tưới cam
    • KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÀ CHUA TRONG NHÀ MÀNG
    • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Dưa Hấu
    • Tưới phun mưa cục bộ cho cây sầu riêng

    Tin nông nghiệp

    20 Th3

    Cà phê Việt Nam gặp khó

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments cà phê xuất khẩu, Giá cà phê, Tưới cà phê

    Cà phê Việt Nam gặp khó (từ báo Nhịp cầu đầu tư): Theo tổng cục Hải Quan,ới.

    Nguyên nhân (theo chứng khoán Tân Việt): Năng suất giảm do tình trạng hạn hán kéo dài, chỉ 60% diện tích cà phê có đủ nước tưới. Diện tích cà phê già cỗi chưa được trồng mới nhiều nên năng suất không cao. Ngoài ra còn tình trạng bà con trữ hàng chờ giá lên, do đó nhiều DN không có lượng để xuất.

    Trong khi đó, áp lực bên ngoài cũng đang tăng cao, khi Indonesia chuẩn bị vào thời kỳ thu hoạch cà phê Robusta. Nhiều khả năng thời gian tới cà phê Việt nam sẽ vấp phải thách thức không nhỏ từ thị trường cạnh tranh này.

    Read More
    cà phê tăng giá
    20 Th3

    Kinh doanh: Yếu tố thiếu bền vững nhất của ngành cà phê

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments

    (TBKTSG Online – Nguyễn Quang Bình) – Mất 173 đô la Mỹ/tấn trong tuần trước, tuần này giá kỳ hạn robusta lấy lại được 112 đô la/tấn. Giá nội địa từ mức thấp nhất niên vụ là 35 triệu đồng/tấn nay tăng lên lại 37,5 triệu đồng/tấn. Tuần trước giá xuống, người có hàng trong tay cho đó là chuyện rủi. Nay giá tăng, “quá may”! Năm ngoái kim ngạch xuất khẩu cà phê trên 3,5 tỉ đô la, lẽ nào chỉ tin vào may rủi!

    Biểu đồ: Diễn biến giá robusta sàn kỳ hạn Ice châu Âu trong tháng 3-2015 (tác giả tổng hợp)

    Giá tăng chưa đạt kỳ vọng

    Sau khi chạm mức thấp nhất 35 triệu đồng/tấn tính từ ngày đầu niên vụ 1-10-2014 đến nay vào cuối tuần trước, giá cà phê nguyên liệu một số nơi tại các tỉnh Tây Nguyên quay đầu tăng nhanh và dừng ở mức 37,5 triệu đồng/tấn vào sáng nay 21-3-2015.

    Giao dịch trên thị trường nội địa diễn ra chậm chạp do người còn giữ hàng chưa thể bán được vì nông dân chê giá thấp và các đại lý thu mua không chấp nhận thua lỗ do giá đầu vào cao hơn mức thị trường hiện nay. Trước đây, do giá cà phê trong nước ở thời điểm đầu vụ bất ngờ tăng lên 41 triệu đồng/tấn, một số cư dân trong vùng và các thành phần kinh tế khác tưởng giá còn tăng, đua nhau mua trữ hàng như một kênh đầu tư, nay giá chưa đạt phải “ngậm” và chờ cơ hội mới.

    “Lên 40 triệu đồng/tấn mới tính tới chuyện mở kho”, chị Hương, một người có 2 héc-ta cà phê tại huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng cho biết. “Trước đây, giá kỳ vọng của tôi là 41 triệu đồng/tấn, nay chắc phải nghĩ lại, nếu 40 triệu đồng/tấn, tôi có thể bán ra đôi chút để bảo đảm an toàn”, một đại lý thu mua tại thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai dịu giọng nói.

     

    Giá xuất khẩu căng, hàng đi ít

    Trong khi đó, giá xuất khẩu loại 2,5% đen bể giao hàng qua lan can tàu (FOB) tính trên mức chênh lệch giữa giá niêm yết và cảng giao hàng đang được chào quanh mức cộng 10/20 đô la/tấn FOB nhưng các nhà nhập khẩu vẫn chê đắt và đang trả quanh mức trừ 40/50 đô la/tấn dưới giá niêm yết sàn kỳ hạn robusta tại châu Âu, hai bên mua bán chưa gặp nhau do chênh lệch khá xa, từ 50-70 đô la/tấn.

    Tổng cục Hải quan ước nước ta chỉ xuất khẩu 92.243 tấn cà phê trong tháng 2-2015, giảm 30,3% so với tháng đầu năm. Khối lượng này trong tầm dự đoán của thị trường vì đấy là tháng Tết. Lũy kế 5 tháng đầu niên vụ 2014/15, cả nước chỉ xuất khẩu 519.800 tấn, giảm 14% so với cùng kỳ vụ trước.

    Một câu hỏi đặt ra là mua bán giao dịch ít khi giá dưới 40 triệu đồng/tấn, xuất khẩu vẫn đều dù không nhiều. “Từ nhiều ngày nay, hàng mua mới không mấy. Hàng xuất khỏi cảng thường là hàng lưu kho hay hàng gởi chưa có giá cuối cùng nhưng người ta vẫn xuất,” một thủ kho làm việc cho một công ty nước ngoài có kho tại Bình Dương không muốn nêu tên cho hay.

    Hàng tồn kho đạt chuẩn tăng

    Dù hàng đi không nhiều, tồn kho robusta đạt chuẩn thuộc sàn kỳ hạn châu Âu vẫn tăng đều.

    Báo cáo thống kê định kỳ của sàn kỳ hạn robusta châu Âu cho biết tính đến hết ngày 16-3, tồn kho đạt chuẩn có giấy chứng nhận được phép đấu giá trên sàn kỳ hạn đạt 163.650 tấn, tăng 6.210 tấn so với kỳ trước cách đấy 2 tuần. Trong khi đó, tồn kho đạt chuẩn arabica New York đến ngày 19-3 đạt mức 136.820 tấn. Theo giá thời điểm, giá trị tồn kho đạt chuẩn của cả hai sàn lên đến gần 740 triệu đô la Mỹ.

    Việt Nam thường là nước cung cấp khối lượng cà phê robusta đạt chuẩn lớn nhất cho sàn kỳ hạn châu Âu. Nhưng thời gian qua, vị trí này đã nhường lại cho Brazil. Một số khách hàng giàu có thiên về kinh doanh tài chính thay vì mua hàng bán cho rang xay, đã chuyển sang trữ hàng trên sàn để kiếm cơ hội siết giá khi cảm thấy lượng tồn kho đủ để gây sức ép lên giá, tạo nên những đợt thiếu hàng giả tạo. Đây chính là nguồn gốc của các tin đồn được/mất mùa, mưa nhiều nắng ít… để trục lợi. Khi làm chủ được lượng hàng này, họ tạo nên những đợt co giật giá nhằm đánh bạt những nhà kinh doanh xuất nhập khẩu nhỏ lẻ, yếu năng lực tài chính để khuynh đảo thị trường.

    Kinh doanh cà phê thiếu bền vững

    Đấy phải chăng là nguồn gốc các yếu tố thiếu bền vững nhất của ngành cà phê hiện nay, nhất là từ khi các sàn hàng hóa thế giới bị đầu cơ xoay hướng về kinh doanh tài chính nhiều hơn. Nói như ông Lương Văn Tự, Chủ tịch Hiệp hội Cà phê & Ca cao trong một cuộc họp mới đây tại thành phố Buôn Ma Thuột rằng “chỉ có chừng 2% hàng thực được mua bán trên sàn, còn 98% còn lại là hàng ảo”.

    Trong khuôn khổ Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột 2015, tại “Hội nghị Phát triển Bền vững ngành Cà phê Việt Nam”, Bộ trưởng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Cao Đức Phát chỉ ra các yếu tố thiếu bền vững của ngành cà phê, trong đó giá và thị trường phụ thuộc rất nhiều vào người khác.

    Các diễn giả tại hội nghị cho biết nước ta hiện có chừng 620.000 héc-ta cà phê với sản lượng hàng năm trên 1,6 triệu tấn. Cây cà phê là nguồn thu chính của hơn 500 ngàn hộ dân và tạo việc làm cho hơn 1,6 triệu lao động. Không chỉ vậy, nguồn thu của nhiều tỉnh ở Tây Nguyên phụ thuộc rất lớn vào cây cà phê.

    Thật ra, mất mùa thất bát sản lượng cà phê ảnh hưởng không lớn vì nhìn chuỗi dài phát triển, chưa đầy 40 năm từ khi đất nước hoàn toàn thống nhất, sản lượng cà phê nước ta từ vài chục ngàn tấn mỗi năm nay sản lượng đã lên con số triệu. Nhưng đồng đô la Mỹ được giá hay mất giá là ảnh hưởng tiêu cực hay tích cực đến chén cơm người nông dân cà phê Việt Nam, và một loạt yếu tố khác của thị trường tài chính có thể gây ảnh hưởng bất lợi đến kinh tế-xã hội của cả vùng Tây Nguyên.

    Nên chăng chọn một cách tiếp cận thị trường khác, chơi với ai, kinh doanh với ai, mua bán cách nào để hạt cà phê phát huy tối ưu lợi nhuận và lâu bền, đó là bài toán cần giải pháp ưu tiên.

    Thật thế, chỉ trong vòng nửa tháng, giá cà phê nội địa và thế giới “lượn lờ” một cách trêu ngươi, không ai trị được. Tuần trước, giá mất 173 đô la/tấn thì đến tuần này tăng lại 112 đô la/tấn, đóng cửa sàn kỳ hạn robusta khuya hôm qua 20-3 chốt mức 1.820 đô la/tấn (xin xem biểu đồ), vẫn mất chừng 350 đô la/tấn so với đỉnh giá kỳ hạn trong niên vụ này.

     

    Read More
    18 Th3

    Mất quá nhiều thứ trong nửa đầu vụ cà phê 2014/15

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments Giá cà phê, lế hội cà phê, trữ cà phê

    (TBKTSG Online) – Giá cà phê nội địa và kỳ hạn xuống mức thấp nhất kể từ nhiều tháng qua. Những yếu tố lũng đoạn giá hoành hành mạnh trên thị trường. Nông dân đang thua lỗ đậm do mất giá, giới kinh doanh đang thiếu hàng giao dẫn đến tình trạng thanh lý hợp đồng: mất uy tín.

    Biểu đồ 1: Diễn biến giá robusta sàn kỳ hạn Ice châu Âu trong tháng 3-2015 (tác giả tổng hợp)

    Mất giá

    Giá cà phê nhiều nơi trên các tỉnh Tây Nguyên mất 3 triệu đồng/tấn ngay khi Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột 2015 vừa chấm dứt vào ngày 12-3-2015. Đây là thời gian giao dịch chậm lại do các nhà xuất khẩu tập trung với các hoạt động lễ hội.

    Đến sáng nay 14-3, hai ngày sau khi lễ hội chấm dứt, giá cà phê chỉ còn 35 triệu đồng/tấn so với cuối tuần trước là 38 triệu đồng/tấn. Đấy cũng là mức thấp nhất của niên vụ 2014/15 bắt đầu từ 1-10-2014.

    Giá cà phê xuất khẩu loại 2,5% đen bể được chào bán ở mức trừ 10 đô la Mỹ/tấn giao hàng qua lan can tàu (FOB) dưới giá niêm yết sàn kỳ hạn Ice châu Âu, nhiều hơn 20-30 đô la/tấn so với cách nay mấy tuần. Tuy nhiên lượng khớp lệnh trong giao dịch không nhiều do các nhà nhập khẩu chê mắc, chỉ những ai cần giao hàng gấp với các hợp đồng nhỏ từ 40-60 tấn mới mua.

    Trên sàn kỳ hạn robusta châu Âu, giá bất ngờ giảm cực mạnh, đóng cửa phiên ngày 13-3 chỉ còn 1.708 đô la/tấn, là mức thấp nhất kể từ 14 tháng nay (xin theo dõi biểu đồ 1).

    Tuy nhiên, nhiều người còn hàng trong tay vẫn kiên tâm đợi chờ như một người ở thành phố Pleiku tự xưng là “Lão nông tri điền” phát biểu trên một mạng thông tin thị trường: “Giá rơi tự do rồi cũng phải dừng. Tôi còn 4 tấn, chờ đến vụ tới bán luôn thể vì sản lượng chưa chắc được…”

    Biểu đồ 2: Diễn biến chỉ số đồng đô la Mỹ tăng (nguồn: tradingchart.com)

    Yếu tố mất giá trong những ngày này còn được tăng cường bởi chỉ số đồng đô la Mỹ trong rổ tiền tệ tăng mạnh. Chỉ số này hôm qua đã vượt trên 100 điểm làm giá nhiều loại hàng hóa lấy đồng đô la Mỹ làm đồng tiền thanh toán một phen suy vi như kim loại vàng, dầu thô, bắp, đường ăn, đậu nành và cà phê cũng không được miễn trừ (xin xem biểu đồ 2 phía trên).

    Mất mùa?

    Thật vậy, chỉ trong vài ngày, giá rơi mạnh làm nhiều người lo lắng dù ước báo của quan chức thuộc Hiệp hội Cà phê-Ca cao Việt Nam (VICOFA) tại một cuộc họp trong khuôn khổ lễ hội cà phê ở Buôn Ma Thuột cho rằng sản lượng niên vụ 2014/15 chỉ đạt chừng 22,17 triệu bao (bao=60 kg), giảm 20% so với niên vụ trước.

    Ước báo của VICOFA có phần hợp lý vì xuất khẩu cà phê trong mấy tháng gần đây giảm rõ rệt. Tổng cục Hải quan cho biết hai tháng đầu năm 2015, xuất khẩu cà phê nước ta giảm 25,3% chỉ đạt 241.000 tấn.

    Không chỉ riêng tại nước ta, tin đồn mất mùa liên tục được dấy lên tại nước sản xuất và xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới là Brazil, kích thích thêm ý định trữ hàng chờ giá tăng. Tuần qua, một tổ chức có tên Fundacao Procafé nói rằng tuy tại Brazil có mưa nhưng đã quá trễ, không cứu kịp sản lượng vụ mùa năm sau của nước này. Tổ chức này ước báo sản lượng cà phê năm tới của Brazil chỉ ở mức 40,3-43,25 triệu bao, giảm ít nhất 2 triệu bao so với niên vụ này. Dự báo này so ra có nhỏ hơn các con số của các đơn vị khác như của Terra Forte – 47,28 triệu bao, Olam International – 49 triệu bao, Volcafe – 49,5 triệu bao, Conab – 44,1-46,6 triệu bao.

    Mới đây, Tổng giám đốc Tổ chức Cà phê Thế giới (ICO) Roberia Silva cho rằng sản lượng năm nay mất đã đành, năm tới thế giới còn thiếu đến 8 triệu bao do hạn hán tại Brazil quê hương ông. Những phát biểu thế này lại có thể kích động phong trào trữ hàng mạnh. Tuy nhiên mình càng trữ, Brazil càng bán ra. Trong tháng 2-2015, Ủy hội Xuất khẩu Cà phê Brazil (Cecafe) báo rằng nước này xuất khẩu 2,19 triệu bao (bao=60kg) cà phê arabica, và robusta đạt 249.324 bao, so với cùng kỳ năm 2014 tăng 68%. Tuy lượng không nhiều nhưng có thể trám được thiếu hụt và giành thị phần xuất khẩu loại cà phê này của nước ta.

    Mất mặt!

    Ngay đầu vụ, giá cà phê nội địa được đẩy lên 41 triệu đồng/tấn khi giá trên sàn kỳ hạn được đẩy lên quanh mức 2.200 đô la/tấn. Sau hơn 5 tháng, giá kỳ hạn nay chỉ còn quanh mức 1.700 đô la/tấn và nội địa 36 triệu đồng/tấn. Giá còn đi tới đâu nữa? Chưa ai dám nói điều gì.

    Theo biến động của thị trường, giá tăng đầu vụ là một “quả lừa” gây họa nhiều hơn phúc vì nhiều người cứ tưởng giá còn tăng khi vào vụ và đua nhau trữ hàng, thiếu tiền mua hàng, đua nhau gởi hàng, để rồi hàng chủ yếu đổ vào kho của vài tay đầu cơ.

    Giá kỳ hạn xuống mạnh đang gây áp lực chốt giá hàng gởi trên sàn. Chốt giá “chặn lỗ” (stoploss) được thực hiện cả tự nguyện lẫn tự động khi hai bên mua bán sợ giá xuống sâu hơn mức tiền đã tạm ứng, thường vào khoảng 70% giá trị thị trường thời điểm, bên bán phải chốt bán giá rẻ bao nhiêu, bên mua hứng mua thoải mái bấy nhiêu.

    Mặt khác, do siết hàng không bán hoặc bao nhiêu hàng bán ra đều vào tay các nhà đầu cơ nhỏ lẻ, không chuyên nghiệp, nhiều nhà xuất khẩu nước ta đang dở khóc dở cười đàm phán thanh lý hợp đồng chịu phạt do không có hàng giao (wash-out).

    Hiện tượng này đã từng xảy ra trong niên vụ 2010/11 khi ngành cà phê bị tai tiếng do không có khả năng thực hiện hợp đồng.

    Chỉ điều có khác là trước đây giá tăng mạnh, các nhà xuất khẩu bán ra nhiều nên thua lỗ đành phải thất hứa. Còn hiện nay, giá quanh mức 40-41 triệu đồng/tấn trong thời gian dài, nhưng hàng không đủ để xuất khẩu qua đường chính thức dù giá ấy có thể chấp nhận được.

    Cách đây mấy năm, có người đã từng lên tiếng phản ứng với chủ trương tạm trữ và cho rằng tạm trữ là “tự trảm”. Những gì đang xảy ra trên thị trường cà phê nước ta hiện nay quả không sai.

    Read More
    Kéo ống tưới cà phê
    16 Th3

    Hạn hán khiến hàng ngàn ha cà phê thiếu nước tưới

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments giải pháp tưới mía, hạn hạn, nước tưới cà phê, tưới Hồ tiêu

    Theo Chi cục Thủy lợi Kon Tum, do ảnh hưởng bởi  nắng hạn kéo dài, mức nước trên hầu hết các sông, suối đều giảm mạnh. Điển hình như trên sông Pô Ko lượng nước thấp hơn so với trung bình nhiều năm trước đó từ 5-15%. Các sông khác như Ðác Tờ Kan, Ðác Pxi, Ðác Bla… thấp hơn từ 15% đến 30%. Toàn tỉnh có gần 1.000ha cà phê thiếu nước tưới. Diện tích cà phê thiếu nước tưới sẽ tăng mạnh trong những ngày tới. Để khắc phục một phần hiện tượng khô hạn năm nay, UBND tỉnh đã đề nghị Chính phủ hỗ trợ khoảng 20 tỷ đồng cho công tác chống hạn.

    Theo Chi cục Thủy lợi Lâm Ðồng, mực nước của 426 công trình thủy lợi, hồ, đập giảm khoảng 10% so với mọi năm, nhiều hồ đã xuống dưới mực nước chết. Toàn tỉnh có 152.274 ha cà-phê, nhiều diện tích bắt đầu thiếu nước tưới, tập trung ở các huyện: Di Linh, Lâm Hà, Bảo Lâm, Ðức Trọng… Theo Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Cư M’gar (Ðác Lắc), trong số 51 hồ chứa tại địa bàn hiện chỉ có bốn hồ có nước, ba hồ đã khô cạn, số còn lại nằm ở mực nước chết. Nếu tình trạng này kéo dài sẽ có khoảng 3.000 đến 4.000 ha cà-phê trên tổng số 35.000 ha cà-phê của huyện thiếu nước.

    Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nghệ An cho biết, toàn tỉnh có 625 hồ đập nhưng có tới 2/3 số hồ chứa nước chỉ đạt dưới 50% mực nước thiết kế, vì vậy nguy cơ thiếu nước phục vụ sản xuất là rất lớn, tạo điều kiện sâu bệnh phát sinh gây hại cho sản xuất vụ xuân. Ðến nay, tỉnh đã gieo cấy được hơn 89.000 ha, với cơ cấu giống mở rộng diện tích lúa chất lượng; hơn 13.554 ha ngô, 12.500 ha lạc và 6.470 ha rau đậu các loại.

    UBND xã Thạnh Phước (Bình Ðại, Bến Tre) cho biết, mùa khô năm nay tình hình hạn, mặn diễn biến phức tạp, hiện hơn 10.000 người dân trong xã bị thiếu nước ngọt trầm trọng, khiến việc sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

    Trong ggày 15-3, Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải kiểm tra công tác phòng, chống hạn hán ở tỉnh Khánh Hòa. Hồ Cam Ranh lớn nhất tỉnh có dung tích thiết kế hơn 22 triệu m3 nước, nhưng lượng nước còn lại chỉ là 5%.

    Read More
    16 Th3

    Nông dân tỉnh Lâm Đồng dốc sức chống khô hạn cho cây càphê

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments

    Mùa khô hạn năm 2015 đang vào cao điểm. Đây cũng là lúc người dân tại nhiều vùng trồng càphê trọng điểm trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng dốc sức chống hạn cho loại cây trồng chủ lực này.

    Tận dụng mọi nguồn nước chống hạn

    Vừa kết thúc kỳ nghỉ dài đầu năm, nhiều hộ dân trên địa bàn huyện Di Linh – vùng trồng càphê lớn nhất Lâm Đồng, bắt đầu ra quân chống hạn, tưới nước đợt hai cho cây càphê. Tại một số địa bàn chịu khô hạn nặng, nguy cơ thiếu hụt nguồn nước cao như xã Gia Bắc, Sơn Điền, Tam Bố, Tân Nghĩa… các hộ dân tranh thủ ngày đêm để bơm nước tưới cây.

    Cạnh vườn càphê 7 sào (7.000m2) của gia đình tại thôn Đồng Đò (xã Tân Nghĩa), ông K’Sim dựng một lều tạm để trực chiến bơm nước tưới cây. Dù diện tích vườn càphê của ông không bằng các vườn khác nhưng để hoàn tất một đợt tưới cũng mất đến hai, ba ngày.

    “Tôi dẫn đường ống xuống tận ruộng nhưng nước vẫn không đủ, cứ tưới được hai tiếng đồng hồ lại phải ngừng năm tiếng chờ đợi mới có nước tưới tiếp” – ông K’Sim giải thích.

    Theo thống kê của Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Di Linh, toàn huyện có gần 42.000ha càphê nhưng chỉ có 48 công trình thủy lợi bao gồm các hồ chứa và đập dâng. Hệ thống thủy lợi này có khả năng đảm bảo nước tưới cho gần 7.000ha cây trồng các loại.

    Trước thực tế trên, những năm qua người dân Di Linh đã chủ động đào 4.000 ao hồ tích nước, hơn 900 giếng khoan để tận dụng nguồn nước ngầm cung cấp cho cây càphê và một số loại cây trồng khác.

    Trong thời điểm tưới nước đợt một cho cây càphê (dịp trước Tết Nguyên đán Ất Mùi), toàn huyện đã tưới được khoảng 86%, số còn lại không có nước tưới do nằm xa nguồn nước, địa hình núi cao. Dự kiến, trong đợt tưới thứ hai này nguồn nước chỉ đáp ứng được khoảng 66% diện tích càphê toàn huyện.

    Ông Trần Nhật Thi, Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Di Linh, cho biết, để đối phó trước tình hình khô hạn có thể kéo dài trong thời gian tới, huyện đã chuẩn bị các phương án cụ thể hỗ trợ nông dân như điều tiết lại lịch xả nước của hồ, đập, vận động nhân dân nối nhiều máy bơm để tưới chống hạn cho càphê ở vùng diện tích xa nguồn nước.

    Đồng thời, huyện cũng phối hợp với ngành điện nâng cấp mạng lưới điện tại một số vùng có nhiều giếng khoan nhằm đảm bảo đủ điện cung cấp cho người dân bơm nước chống hạn.

    Cũng tương tự, đến thời điểm này tình hình khô hạn trên địa bàn huyện Bảo Lâm bắt đầu có diễn biến gay gắt. Theo khảo sát của Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Bảo Lâm cho thấy, trên địa bàn hiện có khoảng 70-80 vị trí bị thiếu nước cục bộ. Đến nay, mực nước tại các ao hồ, công trình thủy lợi trong huyện cũng đang dần hạ thấp.

    Theo thống kê, toàn huyện Bảo Lâm có 21 công trình thủy lợi các loại với công suất thiết kế đảm bảo tưới tiêu cho khoảng 30-35% diện tích đất nông nghiệp của huyện, số còn lại người dân phải tận dụng nguồn nước ao, hồ và sông suối.

    Theo ông Đậu Văn Xuân, Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Bảo Lâm, toàn huyện có 45.000ha đất nông nghiệp, chủ yếu trồng càphê và cây chè.

    Mùa khô năm trước có khoảng 75% diện tích chủ động được nước tưới, diện tích còn lại chịu cảnh khô hạn khiến cây càphê giảm sản lượng gần một nửa, cây chè bị thất thu nhiều tháng liền.

    Khô hạn sẽ còn gay gắt hơn

    Toàn tỉnh Lâm Đồng hiện có 152.000ha càphê các loại. Trong đó, diện tích tập trung chủ yếu tại các huyện Di Linh, Lâm Hà, Bảo Lâm, Đức Trọng, Đam Rông và thành phố Bảo Lộc. Đa phần các địa phương trên nằm trong danh sách dự báo có khả năng xảy ra hạn hán cao trong thời gian tới.

    Đặc biệt, như địa bàn các xã Đan Phượng, Phi Tô (Lâm Hà); xã Ninh Loan, Đà Loan, Đa Quyn… (Đức Trọng) sẽ chịu khô hạn gay gắt bởi nhiều hồ chứa ở các vùng này hiện nay đã cạn kiện.

    Theo ghi nhận của Chi cục Thủy lợi tỉnh Lâm Đồng mới đây, mực nước trung bình của các hồ chứa trên địa bàn hiện nay đang thấp hơn cùng kỳ các năm khoảng 25cm.

    Tại các địa phương, nhiều hồ chứa vừa và nhỏ mực nước đều xuống thấp, một số hồ đã xuống dưới mực nước chết hoặc khô hạn. Đặc biệt, mực nước của các hồ thủy lợi lớn như hồ Ka La (huyện Di Linh), Đắk Lông Thượng (Bảo Lâm), hồ Đạ Tẻh (Đạ Tẻh), Tuyền Lâm (Thành phố Đà Lạt)… đang ở dưới mực nước dâng bình thường vài mét.

    Trong khi đó, trên sông Đồng Nai, đoạn chảy qua tỉnh Lâm Đồng, mực nước đã xuống dưới mức thấp nhất, không đủ cột nước bơm khiến ba trạm bơm lớn trên đoạn sông này (gồm trạm Đức Phổ, Phù Mỹ, Phước Cát 1) phải tạm dừng hoạt động hoặc hoạt động cầm chừng.

    Nguyên nhân của tình trạng này là do các nhà máy thủy điện trên hệ thống sông Đồng Nai tạm ngưng xả nước về hạ lưu.

    Ông Phan Công Ngôn, Chi cục Trưởng Chi cục Thủy lợi Lâm Đồng cho biết, trong khi tình hình khô hạn diễn biến bất thường, một số hồ chứa, đập dâng bị hư hỏng, bồi lấp nhưng địa phương vẫn không có kinh phí để duy tu, sửa chữa do nguồn vốn phục vụ công tác chống hạn năm 2015 (hơn 57 tỷ đồng) đề xuất trung ương hỗ trợ đến nay vẫn chưa được bố trí./.

    Read More
    15 Th3

    Lotte muốn đầu tư lớn vào ngành cà phê Đắk Lắk

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments cà phê Buôn mê, Cà phê đăk lak, Lotte đầu tư vào cà phê Việt Nam, thương hiệu cà phê Buôn Mê

     

    Lotte muốn đầu tư lớn vào ngành cà phê Đắk Lắk

    Trung Chánh

    Lotte đầu tư vào cà phê Đăk Lăk
    Lotte đầu tư vào cà phê Đăk Lăk

    (TBKTSG Online) – Lotte- một tập đoàn đa quốc gia về thực phẩm và mua sắm, trụ sở tại Hàn Quốc – vừa có buổi làm việc với Đắk Lắk để đăng ký đầu tư dự án trồng và chế biến cà phê có quy mô 250 triệu đô la Mỹ tại địa phương này.

    Thông tin trên đã được ông Đinh Văn Khiết, Phó chủ tịch UBND Đắk Lắk xác nhận mới đây tại một hội thảo về chuyên ngành cà phê tại địa phương này.

    Theo ông Khiết, thời gian qua, Đắk Lắk đã đẩy mạnh kêu gọi các nhà đầu tư rót vốn vào ngành cà phê. Nhưng điều kiện mà phía Lotte đưa ra là phải giao cho họ 4.000-5.000 héc ta đất để họ xây nhà máy và trồng cà phê theo tiêu chuẩn của họ đã gây không ít khó khăn cho địa phương. “Tỉnh khó có thể đáp ứng được điều kiện đó của họ, cho nên chúng tôi đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ để xử lý và hiện vẫn còn đang trong quá trình nghiên cứu”, ông Khiết cho biết.

    Cũng theo ông Khiết, phía Lotte cam kết, nếu được chấp thuận chủ trương đầu tư, họ sẽ chế biến cà phê theo dạng giá trị gia tăng cao mà cụ thể là chế biến dạng lon giống như nước giải khát của Coca-Cola.

    Theo tìm hiểu của TBKTSG Online, Hàn Quốc là một trong những thị trường tiêu thụ cà phê tương đối lớn của Việt Nam thời gian qua, nhưng đang có xu hướng sụt giảm mạnh trong những năm gần đây.

    Cụ thể, theo TS Phan Thế Công, Trưởng bộ môn kinh tế vĩ mô, trường Đại học Thương mại, trong 5 năm gần đây, kim ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam sang Hàn Quốc đã giảm từ hơn 80 triệu đô la Mỹ/năm, xuống chỉ còn khoảng 60 triệu đô la Mỹ trong năm 2014, “và trong năm 2015, kim ngạch xuất khẩu cà phê sang Hàn Quốc có xu hướng sẽ giảm tiếp”, ông nói.

    Như vậy, nếu dự án trên được thực hiện, thì khả năng gia tăng kim ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam nói chung và sang Hàn Quốc nói riêng thời gian tới có thể sẽ được cải thiện đáng kể hơn.

    Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hai tháng đầu năm 2015, xuất khẩu cà phê cả nước đạt 242.000 tấn, trị giá đạt 511 triệu đô la Mỹ, giảm 25% về khối lượng và 16,4% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái.

    Xem thêm:

    Lotte đã “thâu tóm” Diamond Plaza

     

    Read More
    Cây mắc ca
    06 Th3

    Giá trị thực của cây mắc ca (tổng hợp)

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments cây mắc ca, giá hạt mắc ca, kỹ thuật trồng mắc ca

    Chung quanh chủ trương phát triển cây mắc-ca (maccadamia) ở Tây Nguyên hiện đang có nhiều ý kiến đa chiều. TBKTSG Online đã có nhiều bài viết, phỏng vấn về đề tài này. Trong mạch thông tin đó, bài viết dưới đây của GS Đinh Xuân Bá* sẽ đưa ra một cách nhìn khác, tập trung vào dữ liệu nghiên cứu chuyên nghiệp, hy vọng sẽ có ích cho việc thực hiện chủ trương trên.

    Cây mắc ca

    Ngày 7-2-2015 tại Đà Lạt đã có hội thảo “Chiến lược phát triển cây mắc-ca tại Tây Nguyên”. Tại đó và ở một số bài viết liên quan, các tác giả đã đưa ra nhiều dữ liệu “hoang tưởng” về cây mắc ca. Ngày 22-2-2015, trên TBKTSG Online, Ngọc Hùng và Hoàng Sơn đã phê phán các số liệu phóng đại do những đơn vị cổ vũ cho chương trình này đưa ra và cho rằng “việc quảng bá quá mức về hiệu quả của cây mắc-ca, trước mắt chắc chắn sẽ tạo lợi nhuận “khủng” cho những người bán cây giống, có thể kéo theo nhiều hệ lụy khó lường …” (xem “Cây mắc-ca và nhiều bài toán phải giải”).

    Người viết bài này hoàn toàn tâm đắc với phản biện nghiêm túc của hai tác giả trên và cho rằng sự phóng đại đó có lẽ còn có lợi cho những người “ăn theo” dự án và sẽ làm khổ những người dám thực hiện dự án mà thiếu các nghiên cứu chuyên nghiệp về loại cây này.

    Trước hết hãy xem vài ví dụ về các dữ liệu hoang tưởng đã được đưa ra:

    – Bài “Đưa cây mắc-ca lọt vào danh sách “cây trồng tỉ đô” của Thùy Dung (9-7-2014) viết: theo ý kiến của ông Nguyễn Công Tạn “….xét về giá trị kinh tế, một cây mắc ca có thể cho tới 70 kg hạt với giá hiện khoảng 15 đô la Mỹ /kg…”

    – Bài “Phát triển cây mắc ca tại Việt Nam: Nhiều kỳ vọng“ của Anh Khoa – Nhà báo và Công luận(22-01-2015) viết: “…..với thực tế hiện nay, một cây macadamia có thể cho tới 70 kg hạt và với giá hiện khoảng 15 USD/kg thì Việt Nam chỉ cần 10 năm để phát triển 100.000 ha và có thể đạt được kim ngạch 1 tỉ USD”

    – Bài “Lâm Đồng: Mắc ca sai quả mùa đầu“ của báo Lâm Đồng đăng lại trên TBKTSG Online ngày 3-7-2011 viết: “ông Lê Đức Ba có vườn mắc ca gần 5 năm tuổi, gồm 300 cây, trung bình mỗi cây cho 7 kg hạt khô, vị chi ông Ba có 2,1 tấn hạt, tính thành tiền mỗi tấn 200 triệu đồng…(nếu quy ra giá đô la Mỹ thời đó thì giá hạt khô là khoảng 10 USD/kg)”.

    – Bài “NHNN sẽ hỗ trợ phát triển cây mắc ca ở Tây Nguyên“ của Thanh Thương ngày 7-2-2015 viết: “Giá trị kinh tế của mắc ca là 5,5 đô la Mỹ/kg trái tươi còn cà phê chỉ từ 2,5 – 3 đô la Mỹ”.

    Tuy nhiên, khi so sánh các thông tin trên với số liệu của các tổ chức quốc tế có uy tín thì có thể nhận ra rằng, không có cơ sở để lạc quan như vậy.

    Để có các dữ liệu khách quan và chính thống thì phải nghiên cứu và khai thác một cách chuyên nghiệp các tư liệu của Cơ quan thống kê của Liên hiệp quốc (United Nations Statistics Division, UNSD, UN COMTRADE, http://unstats.un.org/unsd/comtrade/) và Trung tâm thương mại quốc tế (International Trade Centre, ITC, www.intracen.org/marketanalysis) trực thuộc Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

    Tất cả các nước đều có nghĩa vụ thông báo các dữ liệu thương mại đã qui định (ví dụ xuất nhập khẩu) cho UNSD, nếu thiếu dữ liệu thương mại của nước nào thì UNSD sẽ dùng các số liệu “phản chiếu” (mirror data) để bù vào. Ngược lại, để nghiêu cứu các chiến lược thương mại, người ta thường khai thác kho dữ liệu khổng lồ, khách quan, chuyên nghiệp và rất chi tiết này. Khi dẫn chứng dữ liệu lấy từ các nguồn chính thống nói trên thì người đọc dễ dàng kiểm chứng được bằng cách truy cập vào các cơ sở dữ liệu (database) của UNSD, UN COMTRADE và ITC.

    Tại các cơ sở dữ liệu này không có khái niệm “chung chung” về hạt mắc ca như trong các ví dụ trên mà có các qui định thống nhất về thuật ngữ mà các nước phải dùng khi giao thương về hạt mắc ca. Cụ thể là theo UNSD và ITC thì có 3 loại hạt mắc ca sau (xem http://www.tradetracing.com/hs-se/macadamia-nut.html và http://comtrade.un.org/db/dqBasicQuery.aspx):

    – Hạt mắc ca nguyên vỏ (in-shell macadamia nut) có mã số HS2012 là 080261
    – Hạt mắc ca đã bóc vỏ (shelled macadamia nut) có mã số HS2012 là 080262
    – Hạt mắc ca nói chung (tươi hoặc khô, nguyên vỏ hoặc đã bóc vỏ) có mã số HS2007 là 080260.
    Các hạt mắc ca 080261 và 080262 đều là hạt khô có độ ẩm khoảng 10%.

    Không nên dùng các khái niệm mơ hồ (ví dụ: hạt khô, trái tươi, hạt thành phẩm,…) để làm dữ liệu nhằm thuyết phục cho một dự án hoặc thâm chí một chiến lược. Dùng các mã số đã được qui định thống nhất đó ta sẽ có tiếng nói chung với thế giới về hạt mắc ca, ta có thể truy cập vào các nguồn dữ liệu của UNSD và ITC để khai thác thông tin và tìm câu trả lời cho những vấn đề ta cần tìm hiểu. Sau đây là vài ví dụ:

    Để trả lời cho câu hỏi là các nước nào xuất khẩu hạt mắc ca 080260 nhiều nhất, từ các nguồn dữ liệu nói trên ta có bảng 1:

    Bảng 1:

    Nước xuất khẩuSố lượng xuất khẩu (tấn)
    2007200820092010201120122013Tổng
    Úc17.17315.95113.41714.8544.7939.27715.63991.104
    Nam Phi10.2319.2769.7569.39913.26411.31621.69684.938
    Hà Lan1.1981.8451.8522.9514.0331.1951.58614.660
    Guatemala1.5021.2641.4881.7131.9901.8032.58312.343
    Zimbabwe0802331.9532.1092.2971.4438.115
    Malawi01703126761.0731.0411.4254.697

     

    Như vậy Mỹ không thuộc vào các nước xuất khẩu nhiều hạt mắc ca 080260 như một vài bài đã viết. Năm 2013 Mỹ xuất 1.715 tấn hạt mắc ca 080260 nhưng lại nhập 7.534 tấn hạt đó, chiếm 23,25% tổng số lượng nhập khẩu toàn cầu và là nước nhập khẩu nhiều nhất hạt mắc ca 080260 (xem http://www.trademap.org/Index.aspx).

    Theo http://en.wikipedia.org/wiki/Macadamia, năm 2013 Úc thu hoạch 35.200 tấn hạt 080260 và(theo bảng1) xuất 15.639 tấn, vậy tỷ lệ xuất khẩu chiếm 44,43%. Năm 2013 Nam Phi thu hoạch 37.000 tấn hạt 080260 và (theo bảng 1) xuất khẩu 21.696 tấn, vậy tỷ lệ xuất khẩu chiếm 58,64%. Như vậy, số lượng xuất khẩu cũng phản ánh năng lực sản xuất của các nước đó. Ngoài ra, năm 2013 Úc không còn là nước có sản lượng hạt mắc ca 080260 lớn nhất.

    Để trả lời cho câu hỏi giá xuất khẩu hạt mắc ca nguyên vỏ 080261 là bao nhiêu, từ các nguồn dữ liệu nói trên ta có bảng 2:

    Bảng 2:

    Nước xuất khẩu20122013Đơn giá trung bình(USD/kg)
    Trị giá (USD)Số lượng(kg)Đơn giá(USD/kg)Trị giá (USD)Số lượng(kg)Đơn giá(USD/kg)
    Nam Phi$38.077.6287.371.1245,17$63.714.67815.356.7114,154,48
    Úc$27.556.0485.392.6355,11$39.110.56010.169.0573.854.28
    Guatemala$1.509.518645.8952,34$1.667.1411.129.9081,481,79
    Hà Lan$4.496.178302.07514,88$741.52978.4109,4613,77
    Zimbabwe$1.707.4991.344.4251,271,27

     

    Từ bảng 2 ta rút ra các nhận xét sau:

    – Dựa vào số liệu xuất khẩu của 5 nước nói trên trong hai năm 2012 và 2013 thì đơn giá trung bình của hạt mắc ca nguyên vỏ trong 2 năm 2012 và 2013 là USD4,27/kg . Nếu không xét giá xuất khẩu của Hà Lan (vì giá cao đột xuất) thì đơn giá trung bình của hạt mắc ca nguyên vỏ 2 năm 2012 và 2013 là USD4,19/kg

    – Đối với hạt mắc ca nguyên vỏ, tốc độ giảm đơn giá sau một năm của Nam Phi là 19,73%, của Úc là 24,66%, của Guatemala là 36,75%, của Hà Lan là 36,42%. Từ đó có thể tính được tốc độ trung bình giảm đơn giá (sau một năm) của 4 nước đầu tiên là 24,52%. Nói cách khác, sau khi xét cả tốc độ giảm giá thì đơn giá trung bình của hạt mắc ca nguyên vỏ là USD3,16/kg.

    – Cần phân biệt giá xuất khẩu với giá thị trường nội địa và giá cửa-nông-trại (farm gate price), giá xuất khẩu cao hơn giá thị trường nội địa và càng cao hơn giá cửa-nông-trại. Giá cửa-nông-trại là giá hạt tươi, sau đó phải qua nhà máy hay xưởng để làm sạch, sấy khô, sàng lọc, phân loại, bao bì đóng gói, chi phi tiếp thị,…rồi mới thành giá xuất khẩu hay giá nội địa.

    Theo www.australian-macadamía.org/industry, năm 2012 giá thị trường nội địa Úc của hạt mắc ca nguyên vỏ là AUD3,20/kg (hay USD2,60/kg). Cũng trong năm đó giá cửa-nông-trại ở vùng Bundaberg là AUD3,20/kg. Theo https://www.daff.qld.gov.au/plants/ thì giá của hạt mắc ca nguyên vỏ dao động từng năm nhưng có giá thấp nhất là AUD1,5/kg (năm 2007) và cao nhất là AUD3,60/kg (năm 2005).

    Vậy các giá hạt mắc ca nói đến trong 3 ví dụ trên (USD15/kg, USD10/kg, USD5,5/kg) cao gấp nhiều lần so với giá USD2,60/kg, thậm chí còn cao hơn cả giá xuất khẩu hạt mắc ca nguyên vỏ (giá này lại đang giảm hàng năm), đấy chính là các số liệu hoang tưởng.

    Để trả lời cho câu hỏi giá xuất khẩu hạt mắc ca đã bóc vỏ 080262 là bao nhiêu, từ các nguồn dữ liệu nói trên ta có bảng 3:

    Bảng 3:

    Nước xuất khẩu20122013Đơn giá trung bình(USD/kg)
    Trị giá (USD)Số lượng(kg)Đơn giá(USD/kg)Trị giá (USD)Số lượng(kg)Đơn giá(USD/kg)
    Nam Phi$56.592.2413.944.79114,35$82.184.8226.338.87912,9713,49
    Úc$59.058.6393.884.02515,21$74.564.5605.470.06413,6314,29
    Guatemala$15.675.0201.157.33813,54$18.570.2471.453.12912,7813,12
    Hà Lan$14.314.512892.59016,04$24.767.9281.508.07116,4216,28
    Zimbabwe$222.75099.0002,252,25

     

    Từ bảng 3 ta rút ra các nhận xét sau:

    – Dựa vào số liệu xuất khẩu của 5 nước nói trên trong hai năm 2012 và 2013, đơn giá trung bình của hạt mắc ca đã bóc vỏ trong hai năm 2012 và 2013 là USD13,98/kg. Nếu không xét giá xuất khẩu của Zimbabwe (vì giá thấp đột xuất) thì đơn giá trung bình của hạt mắc ca đã bóc vỏ trong 2 năm 2012 và 2013 là USD14,03/kg.

    – Đối với hạt mắc ca đã bóc vỏ, tốc độ giảm đơn giá sau một năm của Nam Phi là 9,62%, của Úc là 10,39%, của Guatemala là 5,61%, của Hà Lan là 2,37%. Từ đó có thể tính được tốc độ trung bình giảm đơn giá (sau một năm) của 4 nước đầu tiên là 8,07%, tức là đơn giá trung bình của hạt mắc ca đã bóc vỏ chỉ còn USD12,90/kg.

    – Cần phân biệt rõ giá xuất khẩu của hạt mắc ca đã bóc vỏ với giá hạt mắc ca nguyên vỏ và với giá cửa-nông-trại. Tỷ lệ nhận được hạt mắc ca đã bóc vỏ từ hạt mắc ca nguyên vỏ là 30% (theowww.australian-macadamias.org/industry/ thì 32.400 tấn hạt nguyên vỏ cho 9.500 tấn hạt đã bóc vỏ), chưa kể phải bỏ nhiều chi phí lớn cho xây dựng nhà máy, các chi phí công nghiệp khác (sấy, chọn lọc, phân loại, khử trùng, bao bì đóng gói,…) và chi phí tiếp thị.

    Bây giờ thử tính xem nếu Việt Nam trồng 100.000 hecta mắc ca thì sau 10 năm ta có thu nhập trung bình trong 1 năm là bao nhiêu đô la Mỹ? (giá bán hạt là giá cửa-nông-trại, ví dụ USD2,6/kg, không thể tính theo giá xuất khẩu được vì chưa biết các chi phí công nghiệp và chi phí tiếp thị…). Để trả lời câu hỏi này, cần phải trả lời một vài câu hỏi liên quan:

    – Một hecta trồng được bao nhiêu cây mắc ca? Theo https://www.daff.qld.gov.au thì một hecta trồng được 312 cây (mật độ trồng 8x4m), theo www.macnut.co.nz thì môt hecta trồng được 416 cây (mật độ trồng 6x4m), còn theo www.nhandan.com.vn thì tại Tây Nguyên VN một hecta trồng thí điểm có hơn 200 cây. Vậy ta tạm lấy con số trung bình là một hecta có 300 cây mắc ca.

    – Một cây thu hoạch được bao nhiêu kg hạt? Theo https://www.daff.qld.gov.au/plants/ ta có số liệu của 2 dòng đầu tiên của bảng 4 (trong 4 năm đầu ta chưa thu hoạch được hạt nào, đến năm thứ 5 thì thu hạt được 1 kg/cây, năm thứ 10 thu được 10kg/cây. Vậy tính cả 10 năm thì thu được trung bình mỗi năm là 3,2kg/cây, không phải là 70kg/cây như ông Tạn và nhà báo Anh Khoa nói).

    Từ những số liệu trên ta lập được Bảng 4:

    Bảng 4:

    Năm thứ5678910
    Sản lượng hạt (kg/cây)1246910
    Sản lượng hạt (kg/ha)3006001200180027003000
    Thu nhập trên 1 hecta (USD/ha)78015603120468070207800
    Thu nhập trên 100.000 hecta (triệu USD)78156312468702780

     

    Từ bảng 4 ta tính được tổng thu nhập trong 10 năm (khi trồng 100.000 hecta cây mắc ca) là 2.496 triệu USD, tức là thu nhập trung bình mỗi năm là 250 triệu USD (1/4 tỉ đô la).

    Tóm lại, người viết bài này ủng hộ chủ trương chiến lược phát triển cây mắc ca tại Tây Nguyên nhưng khi làm các dự án, nhất là khi điều hành các dự án và chương trình cụ thể cần phải tác nghiệp thận trọng và chuyên nghiệp, lấy lợi ích của người lao động ở nông thôn và lợi ích kinh tế xã hội của đất nước làm trọng, hạn chế tối đa các hiện tượng tiêu cực “đục nước béo cò” (nghe nói có nơi nông dân đã phải mua cây giống mắc ca với giá “khủng” là 100.000 VNĐ/cây).

    * Giáo sư Đinh Xuân Bá: Giám đốc Trung tâm Sinh học ứng dụng SECOIN

    Theo Thesaigontimes.vn

     

    Read More
    05 Th3

    AFD hỗ trợ phát triển hạ tầng thủy lợi tại Bình Định, Hưng Yên

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments

    Thuy loi Phu Yen, Binh Dinh(TBKTSG Online – Thùy Dung) – Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) tại Việt Nam đã dành một khoản vay ưu đãi trị giá 18,8 triệu euro để phát triển cơ sở hạ tầng thủy lợi và một khoản viện trợ không hoàn lại trị giá 300.000 euro để tăng cường năng lực quản lý thủy lợi tại Việt Nam.

    Theo thông cáo báo chí phát đi từ AFD ngày hôm nay 6-3, khoản vay và viện trợ này sẽ được dùng để tăng cường năng lực quản lý thủy lợi tại hai tỉnh Bình Định và Hưng Yên.

    Từ năm 1994, AFD đã tham gia tài trợ các dự án cơ sở hạ tầng thủy nông và tăng cường năng lực quản lý thủy lợi cho các địa phương. Các hoạt động này, dù là ở quy mô lưu vực hay tại một tỉnh, đều cho thấy lợi ích của việc phát triển thủy lợi đối với phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo và mang lại lợi ích cho người nông dân cũng như chủ dự án.

    Dự án này nằm trong khuôn khổ chính sách tài trợ của AFD nhằm thích nghi hoặc giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu. Dự án cũng chú trọng tới vấn đề quản lý tưới có sự tham gia của người dân và nâng cao hiệu quả sản xuất như là yếu tố quan trọng bảo đảm khai thác có hiệu quả tiềm năng sản xuất của các khu tưới liên quan.

    Dự án mang lại lợi ích cho 7.000 héc ta đất sản xuất nông nghiệp và 114.000 người dân tại các tỉnh thụ hưởng vốn tài trợ.

    Là trụ cột trong chính sách hỗ trợ phát triển chính thức của Pháp, Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) đã có mặt tại Việt Nam từ năm 1994 và tổng cam kết hỗ trợ phát triển chính thức của AFD dành cho Việt Nam đã đạt mức 1,6 tỷ euro, cho 79 dự án.

    Đọc thêm:

    TPHCM kêu gọi đầu tư vào thủy lợi

     

    Read More
    28 Th2

    Báo cáo thị trường tưới cho cây trồng trang trại, đồn điền

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments tưới nhỏ giọt, Tưới phun mưa, tưới quy mô nhỏ, tưới trang trại, tưới đồn điền
    Theo báo cáo, thị trường thiết bị tưới cho trang trại, đồn điền toàn cầu có thể đạt 841,2 triệu đô la trong năm 2018.
    Ứng dụng hệ thống tưới  phạm vi nhỏ (Micro Irrigation* – xem chú thích cuối bài) trong các trang trại, đồn điện được dự báo có sự tăng trưởng trong những năm tới bởi nhu cầu tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp thế giới  trưởng mạnh. Các trang trại, đồn điền thường có diện tích lớn, các vùng cây trồng nhân tạo hoặc cây rừng được lập nên để canh tác cây trồng, đặc biệt các thành phẩm thường để xuất đi các thị trường khác. Theo truyền thống, các loại cây trồng này thường được tưới dựa vào mưa tự nhiên, tuy nhiên nhằm nâng cao năng suất, hệ thống tưới đãđược đưa vào sử dụng.Hệ thống tưới phạm vi nhỏ (micro irrigation) được áp dụng cho rất nhiều loại cây ăn trái và các loại cây thương mại khác nhằm tránh sự lãng phí nguồn nước. Một số hãng cung cấp thiết bị tưới lớn trong phân khúc này phải kểđến như Access Irrigation Ltd., Antelco Pty. Ltd., Driptech, Inc., Elgo Irrigation Ltd., Ewing Irrigation Products Inc., Hunter Industries, Inc., Life Irrigation, Nelson Irrigation Corporation etc.
    Tưới nhỏ giọt được xem như hình thức tưới phù hợp nhất trong hệ thống tưới Micro irrigation ứng dụng trong các trang trại, đồn điền. Trên quy mô toàn cầu, thiết bị tưới ứng dụng trong tưới trang trại có tốc độ tăng trưởng cao nhất, đạt trung bình 18.7% cho đến năm 2018.Báo cáo nghiên cứu hệ thống tưới trong thị trường trang trại, đồn điền và nhiều phân khúc khác một cách chi tiết. Nó bao gồm dự báo quy mô thị trường cho các phân khúc căn cứ theo hình thức ứng dụng, người sử dụng cuối cùng, quốc gia, thị trường thứ cấp và các công ty.

    Báo cáo cũng bao gồm chi tiết về sự cạnh tranh trong lĩnh vực tưới cảnh quan, hồ sơ các công ty cung cấp thiết bị trong lĩnh vực này cũng như chiến lược phát triển của các công ty đãáp dụng trong những năm gần đây nhằm nâng cao sự nhận biết sản phẩm đối với người dùng và thị phần.

    Để có thêm các thông tin, vui lòng truy cập:

    • www.micromarketmonitor.com/contact/1212215220-request_for…
    • www.micromarketmonitor.com/contact/1212215220-speak_to_an…
    • www.micromarketmonitor.com/offerings/subscription
    • www.prweb.net/Redirect.aspx?id=aHR0cDovL3d3dy5saW5rZWRpbi…

     

    • Tưới quy mô nhỏ (Micro irrigation) được hiểu là hình thức tưới nước cho cây trồng thường với một lưu lượng nước nhỏ tưới lên trên bề mặt hoặc dưới mặt đất. Thông thường giống như các hạt nước rời rạc, các tia nước, hoặc nước rỉ. Hiểu nôm na thì Micro Irrigation bao gồm tất cả các phương pháp thiết bị tưới phun mưa và nhỏ giọt tưới dạng hạt nước, tia nước hoặc rỉ nhỏ giọt. Như vậy, tưới tràn không được hiểu là Micro irrigation
    • Thiết bị tưới trong Micro irrigation bao gồm: tưới nhỏ giọt, tưới béc, tưới nhà kính, vòi tưới, sún tưới bán kính lớn…
    Read More
    Hồ tiêu Đồng Nai xuất khẩu
    26 Th2

    Xuất khẩu gần 900 tấn tiêu giá cao tại Đồng Nai

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments giá tiêu, giá trị cây hồ tiêu, Hồ tiêu, sản lượng tiêu, tiêu đồng nai, tưới Hồ tiêu

    Theo thống kê, trong hai tháng đầu năm 2015, tỉnh Đồng Nai đã xuất khẩu xấp xỉ 900 tấn Hồ tiêu với kim ngạch trên 11 triệu USD với giá trung bình xấp xỉ 245,000vnd/kg (đây được xem là mức giá cao kỷ lục từ trước đến nay) tăng 54% về lượng và 150% về giá trị.

    Năng xuất trung bình đạt khoảng 5-6 tấn/ha tăng 2-3 tấn/ha so với vụ trước. Mức giá thu mua tại vườn khoảng 200,000vnd/kg. Như vậy ước tính người trồng tiêu thu lời từ 600-700 triệu/ha. Người trồng tiêu vô cùng phấn khởi vì đây là năm thứ tư liên tiếp giá tiêu giữ được mức giá cao.

     

    Read More
    • Prev
    • 1
    • 2
    • …
    • 16
    • 17
    • 18
    • 19
    • 20
    • …
    • 37
    • 38
    • Next

    VẬN CHUYỂN

    Toàn quốc

    KHUYẾN MẠI

    & Quà tặng

    LIÊN HỆ

    0917 367 763

    UY TÍN

    & Chất lượng

    Cửa hàng

    • Hướng dẫn lắp đặt
    • Hỏi đáp
    • Ứng dụng mô hình tưới
    • Tin nông nghiệp
    • Tuyển dụng
    • Catalogue
    • Tin Nông Nghiệp
    • Ứng Dụng Mô Hình Tưới
    • Tuyển dụng
    • Tưới nông nghiệp
    • Thư viện
    • Giới thiệu

    Thông tin

    • Giới thiệu
    • Tin tức
    • Đội ngũ nhân viên
    • Làm đại lý phân phối
    • Chúng tôi đại diện cho
    • Liên hệ

    Hỗ trợ

    • Giao nhận hàng hóa
    • Thanh toán
    • Hướng dẫn mua hàng
    • Trả & đổi hàng
    • Chính sách bảo hành
    • Chính sách bảo mật thông tin

    Tài khoản

    • Giới thiệu
    • Video
    • Liên hệ
    • Tưới phun mưa
    • Tưới nhỏ giọt
    • Tưới cảnh quan
    • Tưới phun sương

    LIÊN HỆ MINH VŨ CO., LTD

    • 85. Nguỵ Như Kon Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
    • Email : minhvu1014@gmail.com
    • Điện thoại : 04 322 168 01

    CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG MINH VŨ

    © 2013-2017 All Rights Reversed.

    Close
    Sign in Or Register
    Forgot your password?

    NEW HERE?

    Registration is free and easy!

    • Faster checkout
    • Save multiple shipping addresses
    • View and track orders and more
    Create an account
    X
    • Menu
    • Categories
    • Trang chủ
    • Cửa hàng
      • Tài khoản
        • Cập nhật tài khoản
        • Cập nhật địa chỉ
        • Xem đơn hàng
        • Quên mật khẩu
      • Thanh toán
    • Tưới nông nghiệp
      • Hướng dẫn lắp đặt
      • Tư vấn chọn thiết bị tưới
      • Ứng dụng mô hình tưới
      • Tin nông nghiệp
      • Câu hỏi thường gặp
    • Thư viện
      • Video
      • Catalogue
    • Liên hệ
    • Tưới phun mưa
      • Béc tưới Ducar
      • Đầu tưới Rivulis
      • Béc tưới Nelson USA
      • Xe tưới tự cuốn Irrifrance
      • Béc tưới Đài Loan
      • Dây tưới phun mưa
    • Tưới nhỏ giọt
      • Dây (ống) tưới nhỏ giọt
        • Tưới nhỏ giọt DiG
        • Rivulis Israel
        • Tưới nhỏ giọt Seowon
      • Đầu tưới nhỏ giọt
      • Ống PE
      • Thiết bị lọc
      • Thiết bị châm phân
      • Phụ kiện ống PE
        • Phụ kiện ống 6mm
        • Phụ kiện ống 12mm
        • Phụ kiện ống 16mm
        • Phụ kiện ống 17mm
        • Phụ kiện ống 20mm
        • Phụ kiện ống 25mm
      • Phụ kiện tưới nhỏ giọt khác
    • Tưới cảnh quan
      • DIG USA
      • Cellfast
      • Hunter USA
    • Tưới phun sương
    • Van điện tử, bộ hẹn giờ
    • Ống nước – phụ kiện
    • Bơm nông nghiệp