Tài khoản

  • Giỏ hàng
  • Thanh toán
  • Tài khoản
  • Login
Giải pháp tưới tự động tối ưu trong nông nghiệp. Tưới nhỏ giọt - phun mưa - phun sương.
Tưới Nông Nghiệp Tự Động
  • Trang chủ
  • Cửa hàng
    • Tài khoản
      • Cập nhật tài khoản
      • Cập nhật địa chỉ
      • Xem đơn hàng
      • Quên mật khẩu
    • Thanh toán
  • Tưới nông nghiệp
    • Hướng dẫn lắp đặt
    • Tư vấn chọn thiết bị tưới
    • Ứng dụng mô hình tưới
    • Tin nông nghiệp
    • Câu hỏi thường gặp
  • Thư viện
    • Video
    • Catalogue
  • Liên hệ
0964 824 106 / 0917367763
Email: minhvu1014@gmail.com
All Departments
  • Tưới phun mưa
    • Béc tưới Ducar
    • Đầu tưới Rivulis
    • Béc tưới Nelson USA
    • Xe tưới tự cuốn Irrifrance
    • Béc tưới Đài Loan
    • Dây tưới phun mưa
  • Tưới nhỏ giọt
    • Dây (ống) tưới nhỏ giọt
      • Tưới nhỏ giọt DiG
      • Rivulis Israel
      • Tưới nhỏ giọt Seowon
    • Đầu tưới nhỏ giọt
    • Ống PE
    • Thiết bị lọc
    • Thiết bị châm phân
    • Phụ kiện ống PE
      • Phụ kiện ống 6mm
      • Phụ kiện ống 12mm
      • Phụ kiện ống 16mm
      • Phụ kiện ống 17mm
      • Phụ kiện ống 20mm
      • Phụ kiện ống 25mm
    • Phụ kiện tưới nhỏ giọt khác
  • Tưới cảnh quan
    • DIG USA
    • Cellfast
    • Hunter USA
  • Tưới phun sương
  • Van điện tử, bộ hẹn giờ
  • Ống nước – phụ kiện
  • Bơm nông nghiệp
0
There are 0 item(s) in your cart
    Subtotal: 0 ₫
    View Cart
    Check Out
    • Home
    • Tin nông nghiệp

    Chuyên mục

    Bài viết mới nhất

    • Chi Phí Lắp Đặt Hệ Thống Tưới Phun Mưa Cục Bộ Cho Cây Cam
    • ĐẦU TƯỚI PHUN MƯA RONDO
    • CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG MINH VŨ Tham Gia Triển Lãm Growtech
    • Kỹ thuật tưới cam
    • KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÀ CHUA TRONG NHÀ MÀNG
    • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Dưa Hấu
    • Tưới phun mưa cục bộ cho cây sầu riêng

    Tin nông nghiệp

    03 Th6

    Sản lượng Hồ tiêu Việt Nam chiếm 50% thị trường toàn cầu

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments chọn thiết thị tưới Hồ tiêu, giá hồ tiêu, Hồ tiêu, Hồ tiêu xuất khẩu, làm giàu từ cây Hồ tiêu, sản lượng hồ tiêu

    Mới đây, Hiệp hội hồ tiêu Việt Nam (VPA) vừa kiến nghị thành lập Sàn giao dịch hồ tiêu Việt Nam trong bối cảnh hồ tiêu Việt Nam đã chiếm trên 50% sản lượng thương mại thế giới và có khả năng đem lại kim ngạch xuất khẩu lớn cho Việt Nam.

    • Giải pháp chống hạn cho càphê, hồ tiêu ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên
    • Hồ Tiêu mất mùa được giá
    • Mô hình Cà phê xen Tiêu hiệu quả tại Di Linh – Lâm Đồng

    Dự báo này làm nức lòng giới kinh doanh, nhưng phía người trồng vẫn còn lo lắng bởi hồ tiêu không phải là loại cây dễ trồng.

    Dự báo ngọt ngào

    Ông Đỗ Hà Nam – Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA) – cho biết, hiện ngành hồ tiêu của Việt Nam đã chiếm trên 50% sản lượng thương mại của thế giới, nên việc thành lập sàn giao dịch hồ tiêu sẽ giúp Việt Nam có thêm sức mạnh chi phối thương mại hồ tiêu toàn cầu.

    Dự báo trong 8 năm tới của Hiệp hội Hồ tiêu thế giới (IPC) cho thấy, Việt Nam sẽ tăng xuất khẩu hồ tiêu thêm 34% so với hiện nay, tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu trên quy mô toàn cầu.

    Bên cạnh đó, VPA cũng đề nghị Bộ NNPTNT cử ứng viên tham gia tranh cử làm Giám đốc điều hành IPC theo yêu cầu của tổ chức này, đồng thời đề xuất chuyển trụ sở IPC từ Indonesia về Việt Nam.

    Theo ông Nam, việc Việt Nam làm Giám đốc điều hành IPC sẽ giúp vị thế ngành hồ tiêu Việt Nam lên cao hơn, vai trò của ngành hồ tiêu Việt Nam trong thương mại sẽ thuận lợi hơn nhiều.

    Thống kê của VPA cho thấy, tổng lượng xuất khẩu hồ tiêu trong 11 tháng năm 2015 đạt 124.000 tấn với kim ngạch khoảng 1,2 tỉ đôla. Số liệu này giảm khoảng 17% về khối lượng nhưng tăng khoảng 2,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2014. Điều này chứng tỏ, 2015 là năm được giá của hồ tiêu Việt Nam, với giá xuất khẩu bình quân tính trong 11 tháng là 9.528 USD/tấn, tăng hơn 20% so với năm 2014.

    Từ hơn 15 năm nay, Việt Nam liên tục chiếm lĩnh thị trường xuất khẩu hồ tiêu trên giới. Thị phần còn lại là các nước Ấn Độ, Indonesia và Brazil. Ảnh hưởng nắng nóng, thiếu nước tưới cho Hồ tiêu vừa qua làm cho sản lượng của các quốc gia này sụt giảm nghiêm trọng. Vì vậy, hồ tiêu Việt Nam có cơ hội “độc tôn” trên thị trường thế giới.

    VPA cũng dự báo, tình hình cung cầu hồ tiêu thế giới năm 2016 vẫn không thay đổi lớn so với năm 2015 khi tổng cầu vẫn lớn hơn lượng cung. Theo đó, tổng lượng xuất khẩu kỳ vọng có thể bằng hoặc cao hơn năm 2015.

    Trong quy hoạch phát triển hồ tiêu Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 của Bộ NNPTNT, diện tích hồ tiêu cả nước duy trì ổn định ở mức 50.000 ha, sản lượng đạt 140.000 tấn/năm. Nhưng hiện nay, diện tích đã tăng lên 80.000 ha. Với đà tăng này, sản lượng hồ tiêu sẽ tăng lên 200.000 tấn/năm trong vài năm tới.

    Thách thức không nhỏ

    Mặc dù là một trong những nước sản xuất hồ tiêu lớn nhất thế giới, nhưng hiện tại Việt Nam vẫn chưa có quy trình hướng dẫn sản xuất hồ tiêu. Người trồng vẫn còn tự “mò mẫm” cây giống, kỹ thuật chăm sóc cũng như công nghệ sau thu hoạch.

    Những vùng trồng lâu năm như Phú Quốc (Kiên Giang) đã có nhiều mô hình sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào canh tác, song vẫn chưa tổng kết, nhân rộng cũng như hoàn thiện, ban hành quy trình canh tác hồ tiêu bền vững. Hiện diện tích trồng hồ tiêu ở Phú Quốc khoảng 385 ha, tập trung ở 2 xã Cửa Dương và Cửa Cạn, năng suất bình quân 2 – 3 tấn/ha, sản lượng tiêu hạt gần 1.000 tấn/năm. Tùy vào thời điểm, giá tiêu trên thị trường dao động từ 140.000 – 180.000 đồng/kg. Đến năm 2020, Phú Quốc có kế hoạch mở rộng diện tích trồng tiêu lên 1.000 ha, phấn đấu năng suất đạt từ 3 tấn/ha trở lên.

    Trong sản xuất, sinh trưởng, cây tiêu trồng trên cây trụ sống (phổ biến là các cây lồng mức, keo dậu, mít, vông gai, anh đào giả, muồng cườm, gòn) những năm đầu có chậm hơn so với trồng trên các cây trụ gỗ chết, trụ bê tông, nhưng vào thời kỳ kinh doanh ổn định, các vườn tiêu trụ sống có lợi thế hơn về chiều cao trụ nên thu được năng suất cao không thua kém các loại trụ khác.

    Đặc biệt, qua nghiên cứu cho thấy, nhờ có độ che bóng nhất định của tán lá cây trụ mà vườn trụ sống không những có năng suất tiêu ổn định hơn, ít khi có hiện tượng kiệt sức do quá sai quả như ở các vườn tiêu trồng trên trụ chết mà tỉ lệ vườn tiêu bị nhiễm bệnh chết nhanh chết chậm chỉ bằng 1/5 lần so với vườn trồng bằng trụ sống.

    Tuy nhiên, việc trồng hồ tiêu tăng nhanh như hiện nay cũng có thể trở thành con dao 2 lưỡi. Diện tích tăng nhanh cùng với sự thâm canh quá mức bởi tâm lý nôn nóng muốn thu được sản lượng nhiều nhất trong thời gian ngắn nhất, trong khi nông dân trồng hồ tiêu nhiều vùng, nhất là ở những nơi trồng mới, lại thiếu kinh nghiệm và thiếu kiến thức về canh tác. Nhiều nơi nông dân canh tác không theo quy trình, sử dụng giống trôi nổi, lạm dụng phân hóa học, thuốc trừ sâu, cách bố trí vườn không đảm bảo cho cây tiêu giữ và thoát nước tốt. Kết quả là nhiều vườn tiêu mất 30-40% năng suất hoặc mất trắng, thậm chí xảy ra tình trạng tiêu chết hàng loạt.

    Phát triển hồ tiêu cần nghĩ tới lợi ích lâu dài

    Hồ tiêu là cây trồng có nhiều ưu thế, có lợi nhuận khá cao, do đó nông dân trồng một cách ồ ạt. Tuy có ưu thế về giá cả và thị trường tiêu thụ, xuất khẩu nhưng đây là loại cây trồng không “dễ tính”, thường bị các dịch bệnh gây thiệt hại kinh tế cho nông dân.

    Trong những năm gần đây, hồ tiêu Việt Nam xuất khẩu liên tục tăng, do đó nhiều hộ nông dân đã chuyển qua canh tác loại cây này làm cho quy hoạch đã vượt càng vượt thêm, gây lo ngại cho các nhà quản lý. Việc vỡ quy hoạch sẽ dẫn đến hệ lụy là cung sẽ vượt cầu và giá rớt, chưa kể tới việc bà con theo nhau trồng trên nhiều chân đất khác nhau, những vùng đất không phù hợp hoặc chưa xử lý tuyến trùng hại rễ, hoặc chọn giống không đúng làm cho cây bị đổ bệnh và lây lan rất nhanh có khi hủy hoại cả vườn hồ tiêu. Một số nông dân muốn có năng suất cao lạm dụng phân, thuốc… đã gây tác hại rất lớn và ảnh hưởng đến chất lượng hồ tiêu Việt Nam trên thị trường thế giới.

    Để hạn chế tình trạng này, bà con nông dân nên cân nhắc thật kỹ trước khi phát triển cây hồ tiêu, chọn vùng đất phù hợp có đủ nguồn nước; chọn giống được xác nhận; liên kết với nhau, kết hợp nông lâm và ứng dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM); sử dụng phân bón hợp lý; tưới nước nhỏ giọt… làm được điều này, không những bà con mình đỡ thiệt hại mà còn mang lại hiệu quả cao hơn.

    Hiện tại, ngành nông nghiệp các địa phương đang rà soát lại quy hoạch và cũng đưa ra một số đề án xây dựng các vùng chuyên canh tập trung cho các loại cây chủ lực ở từng địa phương, trong đó có cây hồ tiêu. Làm tốt điều này sẽ tạo nên lợi ích lâu dài cho nông dân. Bà con nên hưởng ứng và tham gia các đề án này bởi nó không những mang lại hiệu quả mà còn mang lại uy tín cho hồ tiêu Việt Nam trên thị trường thế giới.

    Theo Hoàng Huy (Lao động)
    Read More
    15 Th4

    Gợi ý một số giải pháp chống hạn cho Cà phê, hồ tiêu

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments nước tưới cà phê, tưới hồ tiêu tự động, tưới nhỏ giọt

    Khu vực Tây Nguyên đang trong thời kỳ khô nắng đỉnh điểm, dưới đây là một số gợi ý từ Bộ NN và PTNT giúp phần nào khắc phục, duy trì qua mùa khô hạn.

    Đối với cà phê

    Nhà Bè Agri thi công hệ thống tưới nhỏ giọt
    Thi công hệ thống tưới nhỏ giọt

    1. Nếu tưới gốc, lưu lượng nước nên duy trì 250-300 lít/gốc thay vì 400-600 lít/gốc như bà con thường áp dụng. Chu kỳ tưới 20-25 ngày

    2. Tưới nhỏ giọt cuốn quanh gốc, lưu lượng 150-200 lít/gốc. Chu kỳ 20-25 ngày.

    3. Sử dụng các loại phân bón lá có chữa Kẽm (Zn), bo (B), hoặc Nucafe từ 2-3 lần trong mùa khô để năng khả năng chịu hạn, chống rụng lá.

    Đối với Hồ tiêu

    1. Đối với cây trong giai đoạn kiến thiết cơ bản, cần sử dụng lưới che nắng để giảm cường dộ ánh sáng trực xạ, giảm bốc hơi nước.

    2. Tưới gốc 120 lít/gốc. Chu kỳ 2-3 ngày.

    3. Tưới nhỏ giọt 20 lít/gốc. Chu kỳ 2-3 ngày.

    Ngoài ra bà con cần tìm mọi biện pháp tích trữ nước, không phát triển vùng trồng ở những nơi không có nguồn nước tưới. Tích cực áp dụng kỹ thuật tưới nước tiết kiệm (tưới nhỏ giọt hoặc tưới phun mưa). Tưới đúng thời điểm, vừa đủ nước.

    Kết hợp bón phân qua hệ thống tưới nhỏ giọt để nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón. Duy trì hệ thống cây che bóng, đai rừng phòng hộ, trồng cây che phủ đất, trồng xen cây ăn quả phù hợp. Tăng cường bón phân hữu cơ nhằm nâng khả năng giữ ẩm và giữ phân của đất. Tỉa bớt cành nhánh nhằm hạn chế thoát hơi nước. Thường xuyên kiểm tra vườn phát hiện sớm dịch hại để phòng trừ kịp thời nhằm tăng khả năng chống chịu của cây trồng trong điều kiện khô hạn.

    Được biết mùa khô năm nay, đến thời điểm hiện nay, toàn khu vực Tây Nguyên đã có gần 40.140 ha cà phê, 2.290 ha tiêu bị thiếu nước tưới, hơn 7.100 ha lúa phải dừng sản xuất, hơn 8.400 ha lúa Đông Xuân… bị mất trắng hoặc giảm năng suất từ 30 đến 70%.

    Nếu tiếp tục không có mưa, diện tích cây trồng chính bị hạn, thiếu nước tưới lên đến 167.000 ha; trong đó 14.600 ha lúa và 152.760 ha cà phê bị ảnh hưởng.

    Cuối tháng 2 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định hỗ trợ 85,1 tỉ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách Trung ương năm 2015 cho 6 tỉnh khắc phục hậu quả hạn hán và xâm nhập mặn.

    Lan Phương/Chinhphu.vn

    Read More
    12 Th4

    Gợi ý một số giải pháp chống hạn cho Cà Phê, Hồ tiêu

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments Chống hạn, công nghệ tưới, hạn hán tây nguyên, Tưới cà phê, tưới Hồ tiêu, Tưới nhỏ giọt, Tưới phun mưa, tưới tiết kiệm, tưới tự động

    Gợi ý một số giải pháp chống hạn cho Cà Phê, Hồ tiêu

    Khu vực Tây Nguyên đang trong thời kỳ khô nắng đỉnh điểm, dưới đây là một số gợi ý từ Bộ NN và PTNT giúp phần nào khắc phục, duy trì qua mùa khô hạn.

    Đối với cà phê

    Nhà Bè Agri thi công hệ thống tưới nhỏ giọt
    Nhà Bè Agri thi công hệ thống tưới nhỏ giọt

    1. Nếu tưới gốc, lưu lượng nước nên duy trì 250-300 lít/gốc thay vì 400-600 lít/gốc như bà con thường áp dụng. Chu kỳ tưới 20-25 ngày

    2. Tưới nhỏ giọt cuốn quanh gốc, lưu lượng 150-200 lít/gốc. Chu kỳ 20-25 ngày.

    3. Sử dụng các loại phân bón lá có chữa Kẽm (Zn), bo (B), hoặc Nucafe từ 2-3 lần trong mùa khô để năng khả năng chịu hạn, chống rụng lá.

     

    Đối với Hồ tiêu

    Tuoi-nho-giot-cho-Ho-Tieu---Nha-Be-Agri1. Đối với cây trong giai đoạn kiến thiết cơ bản, cần sử dụng lưới che nắng để giảm cường dộ ánh sáng trực xạ, giảm bốc hơi nước.

    2. Tưới gốc 120 lít/gốc. Chu kỳ 2-3 ngày.

    3. Tưới nhỏ giọt 20 lít/gốc. Chu kỳ 2-3 ngày.

    Ngoài ra bà con cần tìm mọi biện pháp tích trữ nước, không phát triển vùng trồng ở những nơi không có nguồn nước tưới. Tích cực áp dụng kỹ thuật tưới nước tiết kiệm (tưới nhỏ giọt hoặc tưới phun mưa). Tưới đúng thời điểm, vừa đủ nước.

    Kết hợp bón phân qua hệ thống tưới nhỏ giọt để nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón. Duy trì hệ thống cây che bóng, đai rừng phòng hộ, trồng cây che phủ đất, trồng xen cây ăn quả phù hợp. Tăng cường bón phân hữu cơ nhằm nâng khả năng giữ ẩm và giữ phân của đất. Tỉa bớt cành nhánh nhằm hạn chế thoát hơi nước. Thường xuyên kiểm tra vườn phát hiện sớm dịch hại để phòng trừ kịp thời nhằm tăng khả năng chống chịu của cây trồng trong điều kiện khô hạn.

    Được biết mùa khô năm nay, đến thời điểm hiện nay, toàn khu vực Tây Nguyên đã có gần 40.140 ha cà phê, 2.290 ha tiêu bị thiếu nước tưới, hơn 7.100 ha lúa phải dừng sản xuất, hơn 8.400 ha lúa Đông Xuân… bị mất trắng hoặc giảm năng suất từ 30 đến 70%.

    Nếu tiếp tục không có mưa, diện tích cây trồng chính bị hạn, thiếu nước tưới lên đến 167.000 ha; trong đó 14.600 ha lúa và 152.760 ha cà phê bị ảnh hưởng.

    Cuối tháng 2 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định hỗ trợ 85,1 tỉ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách Trung ương năm 2015 cho 6 tỉnh khắc phục hậu quả hạn hán và xâm nhập mặn.

    Lan Phương/Chinhphu.vn

    Read More
    13 Th3

    Triệu phú nông dân

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments

    Người nông dân ngày nay luôn tiên phong tìm kiếm cơ hội làm giàu mới. Từ con giống cho đến cây trồng, tất cả đều được họ đưa vào tầm ngắm để biến thành sản phẩm xuất khẩu mang lại giá trị kinh tế cao.

    Nuôi khỉ xuất khẩu

    Có lẽ nói về mô hình trang trại chăn nuôi, ít ai nghĩ rằng khỉ cũng được nuôi để xuất khẩu. Thế mà ông Huỳnh Hữu Dũng đã đầu tư trang trại khỉ rộng 5 ha ở huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước với hơn 1.700 cá thể khỉ. Bên cạnh việc đầu tư vào trại khỉ lớn nhất vùng Đông Nam Bộ này, ông Dũng còn mở thêm trang trại khỉ ở Tây Ninh và Lào.

    Được biết, một chú khỉ Rhesus nặng 2 kg khi xuất chuồng sẽ được bán với giá 400-500 USD, nhằm phục vụ cho mục đích y học. Tuy nhiên, nuôi khỉ xuất khẩu đạt chất lượng về hình dáng, sức khỏe… không đơn giản. Do đây là loài động vật được pháp luật bảo vệ, nên việc nuôi khỉ xuất khẩu đòi hỏi nhiều thủ tục và phải đảm bảo đúng pháp luật.

    Theo ông Dũng, khỉ nuôi sẽ được xuất khẩu sang nước ngoài phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, thử nghiệm vắc-xin chống nhiễm khuẩn hoặc thử thuốc trị ung thư cho con người.

    Gà rừng, heo Tây thu triệu đô

    15-20 tỉ đồng là mức doanh thu trung bình mỗi năm anh Hoàng Thắng (xã Dân Hạ, Kỳ Sơn, Hòa Bình) mang về cho gia đình từ trang trại gà rừng của mình. Lập nghiệp cách đây 6 năm chỉ với khoảng 100 con gà, hiện số lượng đã tăng lên 5.000 con. Đây là giống gà rừng thuần chủng, thời gian đầu được anh tìm giống từ các hộ dân trong làng và các bản ở vùng núi phía Bắc, có chất lượng thịt ngon và thơm.

    Hiện trang trại của anh Thắng có 2 giống gà rừng tai đỏ và tai trắng thuần chủng F1, F2 và F3. Mỗi năm, anh bán ra thị trường khoảng 30.000 con gà giống và thương phẩm, với giá bán gà rừng thương phẩm là 700.000 đồng/con, giá gà giống tùy vào độ tuổi. Anh Thắng cũng liên kết với các hộ dân thực hiện mô hình này, giúp họ thoát nghèo.

    Trong khi đó, ông Đinh Văn Thiểm, một cựu chiến binh ở Nam Định, đã thu về mỗi năm hơn 40 tỉ đồng từ trang trại chỉ 3 ha của mình. Trang trại này vốn là một lò gạch bỏ hoang tại địa phương, được ông thuê lại và gắn bó suốt từ năm 1999.

    Cũng như nhiều người làm nông khác, cơ hội đến với ông Thiểm cũng nhiều nhưng khó khăn là không ít. Khởi đầu từ gà vịt, heo cỏ, heo mán, do chưa có kinh nghiệm nuôi nên ông từng thua lỗ hàng tỉ đồng.

    May mắn thay, trong quá trình tìm kiếm thông tin về heo, ông Thiểm biết được giống heo Tây khỏe, ngoại hình to, ít bệnh tật nên quyết định đầu tư hẳn 20 con heo mẹ giống Đức, Nga, Đan Mạch lai với heo bố giống Canada, Mỹ để tạo ra giống heo Tây. Mỗi năm, trang trại của ông có 200 con heo sinh sản, cung ứng cho thị trường khoảng 4.000 con giống, giá bán khoảng 1,5 triệu đồng/con một tháng tuổi. Bên cạnh đó là khoảng 60 tấn heo hơi, 25 tấn thịt và cá giống cùng hàng ngàn tấn vải, nhãn…

    Chuối, bưởi sạch đua nhau xuất ngoại

    Chuoi sachMấy ai nghĩ nải chuối quen thuộc với nhiều người lại là một giống cây được đầu tư vài chục tỉ đồng để trồng? Tuy nhiên, có một vườn chuối triệu đô tại tỉnh Long An, do anh Võ Quan Huy tự tay đầu tư và phát triển.

    Khu vườn trồng chuối này có giá trị đất nông nghiệp khoảng 35 tỉ đồng, được anh Huy đầu tư thêm nhà đóng gói, phương tiện cơ giới để sản xuất theo quy trình chuối sạch, tổng giá trị ước tính 50 tỉ đồng, tương đương khoảng 2 triệu USD. Ngoài ra, anh còn đầu tư thêm khoảng 70 ha chuối ở Tây Ninh.

    Chuối của anh Huy hiện được xuất khẩu sang chủ yếu sang các nước Trung Đông. Anh đã ký được nhiều đơn hàng dài hạn để đưa chuối Việt Nam vào những thị trường này. Hiện giá chuối bán tại vườn được các công ty thu mua với giá từ 7.000-8.000 đồng/kg. Sản phẩm chuối sạch này cũng được cung ứng cho một số siêu thị trong nước.

    Cách Long An không xa, tỉnh Tiền Giang cũng nổi tiếng với nhiều trái cây ngon. Trong đó, bưởi da xanh chính là một trong những niềm tự hào của người nông dân nơi đây.

    Vốn là một lương y nên ông Đoàn Văn Khanh hiểu rất rõ về công dụng của hoa, lá, trái và vỏ bưởi. Chính vì vậy, ông đã tận dụng những thứ tưởng như bỏ đi của trái bưởi để sản xuất nhiều dòng sản phẩm mới lạ như tinh dầu hoa bưởi, trà hoa bưởi, dầu gội tinh dầu bưởi hay nước ép bưởi giảm mỡ. Sản phẩm của ông Khanh đã được cấp chứng nhận để đưa ra thị trường cũng như chào bán tại thị trường nước ngoài.

    Mặc dù chỉ mới chính thức xuất khẩu ra nước ngoài khoảng vài tháng nay, nhưng ông Khanh đã có được 2 lô hàng sang thị trường Canada trị giá hơn 400.000 USD. Sản phẩm chủ lực để vào thị trường này của ông là nước bưởi ép giảm mỡ và thuốc mọc tóc, đen tóc từ bưởi.

    Hoàng Quân (Sưu tầm từ báo Nhịp cầu đầu tư)

    Read More
    31 Th1

    Lợi ích từ phát triển cà phê bền vững chuẩn 4C

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments

    Trong khi nhiều hộ trồng cà phê than lỗ vì giá cà phê xuống thấp thời gian qua, những hộ trồng cà phê đạt chuẩn 4C vẫn có lợi nhuận khá.

    Ca phe chuan 4CTiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận
    Bà Mai Thị Chung, ở xã Quảng Tiến, H.Cư M’gar (Đắk Lắk), lật lại tấm lịch thời vụ cà phê do chương trình cà phê 4C cung cấp để kiểm tra các công việc cần làm. Đây là cuốn lịch rất đặc biệt với người trồng cà phê vì nó liên quan đến việc chăm sóc cây cà phê theo từng tháng; đồng thời có thể tái sử dụng đến 5 – 7 năm mới cần phải cập nhật lại. Bà Chung có rẫy cà phê trên 4 ha và sống bằng nghề này cũng tròm trèm 20 năm. Bốn năm trước, bà tham gia chương trình 4C.
    “Trước đây làm theo kinh nghiệm, bón phân, nước tưới không biết bao nhiêu là vừa. Vì vậy, để chắc ăn, bà con có tâm lý bón, tưới càng nhiều càng tốt. Một gốc cà phê tôi thường bón một ký phân và tưới nước 5 phút. Từ khi đi học mình mới biết bón phân thừa thì cây cũng không hấp thụ được. Cũng như tưới nước nhiều quá sẽ cuốn theo cả phân bón gây lãng phí”, bà Chung nói và cho biết khi tham gia chương trình, bà được hướng dẫn chỉ cần bón 500 – 600 gr phân tùy từng cây, mỗi năm thường bón 3 lần. Thời gian tưới nước cũng rút ngắn chỉ còn phân nửa.
    “Một héc ta cà phê có trung bình 1.100 cây, tính ra lượng phân bón tiết kiệm được khoảng 1,5 tấn/năm. Chưa kể tiền điện để tưới nước, công tưới cũng giảm hẳn. Giảm phân bón, giảm tưới nhưng làm đúng kỹ thuật nên năng suất tăng so với cách làm truyền thống”, bà Chung hồ hởi.
    Cũng nhờ thế, dù mấy năm gần đây giá cà phê liên tục giảm, nhiều người trồng cà phê không có lời, thậm chí còn lỗ nhưng rẫy cà phê của bà Chung vẫn lãi gần 20 triệu đồng/ha.
    Bà Nguyễn Thị Xoa, Tổ trưởng Tổ hợp tác sản xuất cà phê 4C thôn Tiếng Cường (Quảng Tiến, H.Cư M’gar), cũng kể trước đây vì sợ trộm cắp bà con thường thu cà phê non, dẫn đến chất lượng, năng suất thấp, giá bán không cao. Giờ để chín đủ mới thu hoạch nên sản lượng và chất lượng cà phê cũng tăng lên, giá bán cà phê cũng cao hơn thị trường. “Tuy cà phê 4C không có doanh nghiệp ký hợp đồng bao tiêu nhưng trước giờ sản xuất bao nhiêu bán cũng hết. Những kiến thức canh tác 4C có lợi cho bà con nông dân, vừa tiết kiệm chi phí đầu tư vừa hiệu quả cao nên chúng tôi vẫn làm theo cách này”, bà Xoa nói.
    [su_quote]4C là gì ? 4C được viết tắt của cụm từ tiếng Anh: Common Code for Coffee Community – bộ Nguyên tắc chung cho cộng đồng cà phê, ra đời năm 2013. 4C được thực hiện với sự hỗ trợ của Bộ Hợp tác kinh tế và phát triển Liên bang Đức (BMZ), Tổ chức Hợp tác phát triển Đức (GIZ) và Hiệp hội Cà phê Đức (DKV). Ngay sau đó, Ban Thư ký nhà nước về kinh tế Thụy Sĩ (SECO), Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế Anh và Liên đoàn Cà phê châu Âu (ECF) cũng tham gia. Tháng 3.2014, Hiệp hội 4C đã có mặt trên 21 quốc gia. Tại VN, Hiệp hội 4C mở văn phòng đại diện tại tỉnh Đắk Lắk vào tháng 12.2009 (là văn phòng thứ 4 của 4C trên thế giới). Hiện có 120.000 nông dân tham gia sản xuất theo chương trình 4C, trên diện tích 200.000 ha, với sản lượng 600.000 tấn/năm.[/su_quote]

     

    Những người như bà Chung, bà Xoa là thành viên của chương trình Nescafé Plan do Nestlé VN phối hợp với Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI) và các đối tác khác thực hiện tại 4 tỉnh Tây nguyên là Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Lâm Đồng. Theo đó, dự án cung cấp giống cà phê chất lượng tốt, kháng sâu bệnh, năng suất cao cho nông dân, nhằm cải thiện chất lượng và tăng năng suất và thu nhập; hỗ trợ 50% kinh phí đầu tư cây giống mới. Tổng số giống được phân phối cho nông dân qua 5 năm đạt 11 triệu cây.

    Song song đó, Nescafé Plan hỗ trợ tập huấn các biện pháp khoa học kỹ thuật với nền tảng là bộ quy tắc 4C sản xuất cà phê bền vững của Tổ chức 4C cho hơn 100.000 lượt nông dân. Đây là kết quả của một chuỗi các nỗ lực nhằm đưa VN trở thành tham chiếu cho cà phê Robusta thế giới. Sau 5 năm triển khai, kết quả cho thấy sản lượng cà phê tăng 14%, chất lượng cà phê ổn định, qua đó tăng thu nhập của bà con nông dân bình quân 16 triệu đồng/ha/năm. Đến nay, đã có hơn 21.000 nông dân tham gia dự án đạt chứng nhận 4C, với sản lượng trên 100.000 tấn/năm, trên diện tích khoảng 32.000 ha.
    Chế biến sâu
    Ông Phạm Phú Ngọc, Trưởng bộ phận hỗ trợ nông nghiệp của Nestlé, cho biết chương trình 4C được xây dựng trên tinh thần canh tác có trách nhiệm và sản xuất, tiêu dùng cũng có trách nhiệm. Chính vì vậy, là đơn vị thu mua chế biến Nestlé luôn tuân thủ nghiêm những quy định cao nhất về chất lượng. Cà phê sau khi được thu mua về kho, trước khi đưa vào chế biến bộ phận kiểm định chất lượng lấy từng mẫu rang xay để pha ra cà phê nguyên chất. Sau đó, bộ phận thẩm định là các chuyên gia nếm, thử cà phê. Các chuyên gia nếm cà phê được chia theo từng nhóm 6 người. Mỗi mẫu cà phê trước khi đưa vào sản xuất phải được các chuyên gia này thông qua. Mẫu cà phê nào rớt lại thì cả lô hàng sẽ bị trả về cho các nhà cung cấp.
    Cà phê nhân sau khi qua khâu thẩm định của các chuyên gia nếm thử sẽ được đưa vào xử lý vệ sinh lần cuối. Cà phê được đưa vào chế biến đòi hỏi cần phải đồng đều về kích cỡ, vì nếu có sự khác biệt thì trong quá trình rang sẽ không có sự đồng đều về độ chín, ảnh hưởng đến chất lượng. Đặc biệt, tại nhà máy chế biến cà phê của Nestlé ở Đồng Nai còn có dây chuyền sử dụng nước để ly trích cafein ra khỏi hạt cà phê. Theo các chuyên gia, đây là công nghệ hiện đại nhất hiện nay và hoàn toàn tự nhiên, vì trước đây để tách cafein ra khỏi hạt cà phê người ta phải dùng đến một số loại hóa chất. Loại cà phê này hiện được Nestlé VN sản xuất để cung cấp cho thị trường châu Âu, nơi thích uống cà phê nhưng không thích bị kích thích bởi cafein. Cafein được tách ra để làm nguyên liệu đầu vào cho các ngành sản xuất khác.

    Chí Nhân

    Read More
    22 Th12

    Giải pháp nào cho thủy lợi Tây Nguyên? Cần những chiến lược tổng thể - Phần cuối

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments

    Phần 1: Tây Nguyên khô khát

    Phần 2: Tây Nguyên trả giá

    Tây Nguyên đang đứng trước thách thức sa mạc hóa do thiếu nước trầm trọng, đặt ra cho ngành chức năng nhiệm vụ cấp bách về việc đảm bảo nguồn nước tưới cho cây trồng.

    Như đã phản ánh trong các bài viết trước, Tây Nguyên màu mỡ đang đứng trước thách thức sa mạc hóa bởi áp lực thiếu nước trầm trọng. Thực tế đó đặt ra cho chính quyền và ngành chức năng nhiệm vụ vừa cấp bách vừa lâu dài về việc đảm bảo nguồn nước tưới cho cây trồng. Đó là phải thay đổi mô hình đầu tư, sắp xếp lại sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để quản lý, khai thác nguồn nước hiệu quả, bền vững.

    Những năm gần đây ở Tây Nguyên xuất hiện nhiều mô hình tưới tiết kiệm trên nhiều loại cây trồng khác nhau mang lại hiệu quả rõ nét. Điển hình ở Lâm Đồng, những vùng trồng rau, hoa trọng điểm như Đà Lạt, Đơn Dương, Lạc Dương, Đức Trọng… đã áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt, tưới phun mưa khá phổ biến.

    Ông Vũ Đình Phúc ở phường 7, thành phố Đà Lạt cho biết hiệu quả thực tế của việc áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt trên 1 hecta hoa: “Thay vì mình tưới một tháng 30 công, nay mình tưới nhỏ giọt tiết kiệm còn lại 3 công, tiết kiệm được phân bón một phần, rồi tiết kiệm được công nên kinh tế gia đình ổn định hơn”.

    radiovietnam_Giải pháp nào cho thủy lợi Tây Nguyên? - Bài 3: Cần những chiến lược tổng thể
    Tưới cà phê theo phương pháp truyền thống của nông dân huyện Buôn Đôn, Đắk Lắk (Ảnh: tintaynguyen.com)

    Cùng với rau, hoa và cà phê, ở Lâm Đồng hiện có khoảng 15% trong tổng số gần 40.000 hecta chè được áp dụng các biện pháp tưới tiết kiệm nước. Ông Phan Văn Luyến, Cán bộ kỹ thuật Công ty TNHH Junhong Việt Nam cho biết, đơn vị đã đầu tư hệ thống tưới nước tiết kiệm cho 40 hecta chè ở huyện Lâm Hà rất có hiệu quả: “Hiệu quả của việc sử dụng hệ thống nhỏ giọt này là thứ nhất là mình kiểm soát và giảm được lượng phân bón, vì sử dụng hệ thống nhỏ giọt thì cây chè ăn trực tiếp được lượng phân bón đó. Thứ hai là nhân công giảm đi rất nhiều. Ba là năng suất thì tương đương hoặc hơn mức chăm sóc bình thường”.

    Tại Đắk Lắk 5 năm qua, Công ty Cà phê Trung Nguyên đã liên kết với nông dân để áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt cho 2.000 hecta cây cà phê, nhằm nâng cao chất lượng vùng nguyên liệu. Gia đình ông Y Na Ayun cùng 6 hộ dân tộc Ê Đê khác ở xã Ea Tul, huyện Chư M’gar được hỗ trợ triển khai mô hình này. Chi phí lắp đặt hệ thống tưới cho mỗi hecta cà phê là 50 triệu đồng; Công ty hỗ trợ một nửa, chương trình nông thôn mới hỗ trợ 40%, còn lại gia đình bỏ ra 10%. Ông Y Na Ayun cho biết: “Năm trước cho có hệ thống nhỏ giọt thì sản lượng cà phê được 1,7 tấn. Năm ngoái là đầu tiên sử dụng hệ thống nhỏ giọt thì được 2,1 tấn, năm nay sẽ tăng thêm nữa”.

    Công ty Cổ phần Công nghệ tưới Khang Thịnh ở thành phố Hồ Chí Minh chuyên cung ứng và chuyển giao công nghệ tưới nhỏ giọt. Những năm qua, công ty đã liên kết với nông dân Tây Nguyên để ứng dụng công nghệ này trên nhiều loại cây trồng như cà phê, hồ tiêu, ngô, mía, rau, hoa và cỏ voi, đều mang lại hiệu quả.

    Ông Vũ Kiên Trung, Giám đốc Công ty cổ phần công nghệ tưới Khang Thịnh nói: “Các tỉnh Tây Nguyên thì Lâm Đồng là tỉnh đi đầu. Họ có lợi thế là có nhiều đơn vị đầu tư nước ngoài đầu vào nên bà con nông dân sản xuất nông nghiệp ở Đà Lạt họ học rất nhanh,ứng dụng rất nhanh. Thứ hai là ở Đắk Lắk, cây trồng trọng điểm là cây cà phê thì chúng tôi ứng dụng nhỏ giọt để mang lại hiệu quả tốt nhất cho cây cà phê. Gia Lai thì ứng dụng nhỏ giọt cho cây hồ tiêu được khoảng 600 hecta, và Đắk Lắk hiện nay cũng đã ứng dụng tưới nhỏ giọt cho hồ tiêu”.

    Nguồn nước ngày càng khan hiếm, diện tích gieo trồng lại không ngừng gia tăng, áp lực nước tưới cho cây trồng đang đè nặng lên vai nông dân Tây Nguyên, đồng thời là trách nhiệm nặng nề của chính quyền và ngành chức năng.

    Theo Tiến sĩ Lê Ngọc Báu, Viện trưởng Viện Khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên, bên cạnh việc tổ chức lại sản xuất quy mô lớn, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học một cách đồng bộ, ở khu vực Tây Nguyên cần có sự chuyển dịch lớn trong đầu tư thủy lợi dựa trên lợi thế so sánh các loại cây trồng.

    Tiến sĩ Lê Ngọc Báu nhận định: “Nhà nước cũng phải có sự chuyển dịch trong đầu tư phát triển thủy lợi, giảm bớt sự mất cân bằng nước. Với lượng mưa hàng năm từ 1.800 đến 2.000 ly, nếu chúng ta có những công trình thủy lợi để giữ lại từ 10 – 15% thì có thể đáp ứng được nước tưới trong mùa khô. Nếu đầu tư thủy lợi cho Tây Nguyên phát triển cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao thì hiệu quả cao hơn rất nhiều so với đầu tư thủy lợi cho lúa nước”.

    Theo quy hoạch tổng thể từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, các tỉnh Tây Nguyên cần đầu tư xây dựng mới và nâng cấp 2.370 công trình thủy lợi, với tổng số vốn trên 58.000 tỷ đồng. Trong khi ngân sách khó khăn, cần có một cơ chế đầu tư linh hoạt hơn.

    PGS.TS Đoàn Doãn Tuấn, Viện trưởng Viện nước Tưới tiêu Môi trường, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam nêu ý kiến: “Nếu sự huy động đóng góp nguồn lực càng có hiệu quả thì chúng ta càng có điều kiện để hoàn thành các cơ sở hạ tầng thủy lợi và dịch vụ quản lý. Tăng cường dịch vụ quản lý thì đưa đến thu nhập cho người nông dân cao hơn và đưa lại sự huy động dễ dàng hơn. Về xã hội hóa đầu tư, chúng ta có thể huy động nông dân bằng cách tổ chức sản xuất theo chuỗi, bao gồm nhà nước, doanh nghiệp và nông dân. Nhà nước đối với các dự án cấp nước tiết kiệm thì có thể đầu tư đường ống chính, đường ống cấp 1, doanh nghiệp đầu tư đường ống cấp 2 cấp 3 và nông dân có thể đầu tư vào ruộng các dây tưới”.

    Thực tiễn ở Tây Nguyên đã có địa phương thực hiện tốt việc xã hội hóa trong việc xây dựng các công trình thủy lợi. Điển hình là tỉnh Lâm Đồng những năm qua đã huy động toàn dân đóng góp để xây dựng hàng trăm hồ chứa nhỏ. Từ nay đến năm 2020, Lâm Đồng dự kiến sẽ đào mới khoảng 5.500 ao, hồ nhỏ với tổng kinh phí 125 tỷ đồng, trong đó người dân đóng góp một nửa.

    Cách làm này của Lâm Đồng được Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hoàng Văn Thắng nhìn nhận như là điển hình về đầu tư phát triển thủy lợi ở Tây Nguyên: “Bên Lâm Đồng làm rất thành công, tỉnh ra những chính sách rất hay, hỗ trợ 70% ca máy để dân và cộng đồng làm những cái hồ này, đây là một kinh nghiệm rất quý. Tôi nghĩ sáng kiến của Lâm Đồng là rất tốt, tức là đưa toàn dân làm thủy lợi. Ở đây tôi muốn nói 3 vấn đề để thúc đấy việc tưới. Thứ nhất là tổ chức lại sản xuất theo hướng quy mô lớn. Trong mô hình chính sách, chúng tôi sẽ hỗ trợ liên kết sản xuất mạnh hơn hỗ trợ cá thể. Thứ hai là khẩn trương điều chỉnh lại đầu tư, đặc biệt là đầu tư công; khuyến khích công – tư. Thứ ba là phải áp dụng đồng bộ các tiến bộ khoa học công nghệ; định hướng lại sản xuất, nếu cây gì đó manh mún, không phù hợp thì chuyển sang cây có lợi thế. Tức là khi muốn làm tiết kiệm nước thì phải đồng bộ với chính sách khác mới có hiệu quả lớn”.

    Đúng là trời hạn mong mưa phùn. Những giải pháp đã nêu xuất phát từ thực tiễn và đã được kiểm nghiệm, nhưng để nhân rộng ra thì không đơn giản. Bởi địa chất, khí hậu, các loại cây trồng và cả tập quán canh tác mỗi nơi một khác.

    Vậy nên, cùng với việc dựa vào sức dân, trí dân, Tây Nguyên cần những giải pháp tổng thể đồng bộ với nguồn lực đầu tư lớn và tập trung, huy động được các nhà khoa học, doanh nghiệp vào cuộc, mới mong đến ngày không còn nhấp nhổm lo tính trả giá cho tình trạng khô khát do chính mình gây ra.

    Nhóm PV thường trú VOV tại Tây Nguyên (Hết)
    Read More
    22 Th12

    Giải pháp nào cho thủy lợi Tây Nguyên? Tây Nguyên đang trả giá - Phần 2

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments

    Phần 1: Tây Nguyên khô khát

    Tây Nguyên đang phải trả giá quá đắt khi xây dựng các nhà máy thủy điện thiếu quy hoạch cùng với nạn phá rừng tàn khốc khiến nguồn nước bị suy giảm trầm trọng.

    Như chúng tôi đã đề cập trong bài viết trước, tình trạng khô hạn ở Tây Nguyên – vùng trọng điểm nông nghiệp của cả nước đã gây ra nhiều thiệt hại, không thể tính hết bằng tiền. Trong bài viết tiếp theo, chúng tôi phân tích về nguyên nhân của thực trạng này. Đó là việc đầu tư xây dựng các công trình thủy điện không tính hết tác động môi trường.

    Các công trình thủy lợi thì không phù hợp với tiềm năng, thế mạnh của vùng, công tác quản lý khai thác còn nhiều bất cập. Rồi tình trạng phá rừng, khai thác nước ngầm vô tội vạ, khiến trữ lượng nước ngày càng suy giảm.

    radiovietnam_Giải pháp nào cho thủy lợi Tây Nguyên? - Bài 2: Tây Nguyên đang trả giá
    Do thủy điện An Khê – Kanak chuyển nước về sông Kôn (Bình Định), sông Ba ở Gia Lai thành “sông chết” (Ảnh: PV VOV)

    Sự can thiệp thô bạo của con người đã tác động trực tiếp đến nguồn nước ở Tây Nguyên trong những năm qua, trước hết là việc xây dựng hàng loạt nhà máy thủy điện trên hầu hết các dòng sông lớn. Điển hình là dự án thủy điện An Khê – Ka Nak ở tỉnh Gia Lai đã chặn ngang dòng chảy sông Ba từ thượng nguồn, rồi chuyển nước về sông Kôn, tỉnh Bình Định; sông Ba trở thành con “sông chết”.

    Mỗi năm, hơn 300 tỷ mét khối nước sông Ba đã bị chuyển về Bình Định, khiến hàng chục nghìn hecta đất sản xuất ở 6 huyện, thị xã của tỉnh Gia Lai bị khô hạn. Khoảng 400.000 dân sinh sống dọc lưu vực sông Ba phải gánh chịu sự ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt.

    Suốt cả nhiệm kỳ làm Chủ tịch HĐND tỉnh Gia Lai, ông Phạm Đình Thu luôn luôn bị áp lực bởi công trình thủy điện này: “Thủy điện An Khê – Kanak là vấn đề lâu dài, căng thẳng lắm, không biết đến lúc nào kết thúc được. Cuộc tiếp cử tri nào cũng nói hết sức gay gắt. Bây giờ nó ảnh hưởng đến lưu vực là gần 400.000 dân ở hạ lưu chứ không phải chỉ có An Khê không. Việc dịch chuyển nguồn nước là tác hại cực kỳ to lớn”.

    Tương tự như vậy, hệ thống sông Serepok (hợp lưu của sông Krông Nô và Krông Ana) chảy qua 2 tỉnh Đắk Nông và Đắk Lắk cũng bị “chặt” ra nhiều khúc để xây dựng thủy điện, ảnh hưởng rất lớn đến nguồn nước thủy lợi. Từ khi nhà máy thủy điện Buôn Tuar Srah chặn dòng Krông Nô, nguồn nước sản xuất của 8 xã, thuộc tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông bị ảnh hưởng.

    Dưới hạ nguồn, nhà máy thủy điện Serepok 4A chặn dòng tại huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk, chuyển nước sang khu vực khác để phát điện, khiến hàng chục km sông Serepok trơ đáy. Việc làm này đã gây hạn hán ở vùng hạ du, ảnh hưởng hệ sinh thái Vườn quốc gia Yook Đôn, đồng thời biến khu du lịch sinh thái Buôn Đôn vốn rất hấp dẫn, thành một địa chỉ heo hút.

    radiovietnam_Giải pháp nào cho thủy lợi Tây Nguyên? - Bài 2: Tây Nguyên đang trả giá
    Thủy điện Serepok 4A chặn dòng khiến khu du lịch sinh thái Bản Đôn khô khốc (Ảnh: PV VOV)

    Tại Kon Tum, thủy điện Thượng Kon Tum đang được xây dựng, chuyển nước từ sông Đăk Snghé, tỉnh Kon Tum sang sông Trà Khúc, tỉnh Quảng Ngãi, chắc chắn sẽ gây thảm cảnh tồi tệ không kém so với những gì đang diễn ra ở hạ lưu thuỷ điện An Khê – Kanak, tỉnh Gia Lai, khu du lịch Buôn Đôn tỉnh Đắk Lắk hay như ở thác Pongour – Lâm Đồng, thác nước thơ mộng và hùng vĩ bậc nhất Tây Nguyên.

    Bà Trương Thị Đáng quản lý Khu du lịch sinh thái Thác Pongour nói: “Khi xây dựng đập thủy điện Đại Ninh thì hầu như nguồn nước dòng sông Đa Nhim về hạ nguồn của thác Pongour là không còn, không đủ nước để mà cung cấp cho cây trồng và nước về với thác, cạn kiệt luôn. Mặc dù thủy điện Đại Ninh cam kết xả về dòng sông Đa Nhim này một phút là bao nhiêu khối nước đó nhưng mà thực tế thì họ không thực hiện theo yêu cầu đó”.

    Đúng là Tây Nguyên đang phải trả giá quá đắt và chưa biết khi nào thôi trả giá. Cùng với việc thiếu tính toán khi xây dựng các nhà máy thủy điện, nạn phá rừng tàn khốc ở Tây Nguyên cũng là tác nhân khiến nguồn nước bị suy giảm trầm trọng.

    Theo Tổng cục lâm nghiệp, 7 năm qua, Tây Nguyên mất gần 360.000 hecta rừng. Một số liệu thống kê khác cho thấy, 30 năm qua, 1/3 diện tích rừng ở Tây Nguyên bị tàn phá, với diện tích hơn 1 triệu 500 nghìn hecta, khiến độ che phủ suy giảm nhanh chóng, mất đi khả năng giữ nước.

    Ông Trương Vân, Giám đốc Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Gia Lai cho rằng: “Phá rừng là một tác động rất lớn, tức là nó đã xóa đi những thảm thực vật. Còn việc chuyển đổi rừng nghèo thì tôi nghĩ là nó cũng ảnh hưởng rất lớn. Vì trước đây người dân trồng lúa cạn ở đầu nguồn, bây giờ chuyển qua trồng cà phê, hồ tiêu. Như vậy là cùng một thời điểm, vừa tưới cho lúa nhưng thượng nguồn người ta sử dụng bơm lấy nước để tưới cho cà phê, hồ tiêu nên lượng nước rất thiếu”.

    radiovietnam_Giải pháp nào cho thủy lợi Tây Nguyên? - Bài 2: Tây Nguyên đang trả giá
    Thủy điện Đại Ninh chuyển nước sông Đa Nhim từ Lâm Đồng về Ninh Thuận khiến thác Ponguor cạn nước (Ảnh: PV VOV)

    Trong khi thuỷ điện đổ nước đi nơi khác, rồi mất rừng – mất khả năng giữ nước, thì việc chống hạn ở Tây Nguyên dồn vào các công trình thuỷ lợi. Tây Nguyên hiện có 2.260 công trình thủy lợi, với 1.150 hồ chứa, gần 950 đập dâng, hàng trăm trạm bơm và gần 5.000 km kênh mương. Thế nhưng, hàng trăm công trình thủy lợi xuống cấp, bị bồi lắng, phần còn lại thì quản lý vận hành yếu kém. Mùa lũ xả sai quy trình gây ngập úng. Mùa hạn thì dùng lãng phí vào đầu vụ để cuối vụ cạn khô.

    Ông Mai Trọng Dũng, Phó giám đốc Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk nêu thực tế: “Các công trình trước đây giao cho địa phương quản lý thì giao cho huyện, huyện giao cho xã, xã lại giao cho một người cán bộ giao thông – thủy lợi; và công trình đó lại giao về cho thôn, buôn, thì ông trưởng thôn, buôn quản lý, để nhiều công trình xuống cấp, đặc biệt một số công trình để dân lấn chiếm. Các công ty cà phê thì việc đâu tư nâng cấp gần như không còn, nên cũng ảnh hưởng đến năng lực tưới của công trình”.

    Tình trạng khai thác nước ngầm vô tội vạ cũng khiến cho Tây Nguyên ngày càng khô khát. Kết quả nghiên cứu của Chương trình cảnh quan bền vững, thuộc tổ chức IDH của Hà Lan cho thấy, khoảng 5 năm trở lại đây, mực nước ngầm ở Tây Nguyên mỗi năm tụt xuống từ 3 đến 5m, trữ lượng nước đã giảm từ 30 – 35%.

    Qua thực tế hoạt động khai thác nước ngầm của đơn vị, ông Trần Văn Thiện, Giám đốc Công ty TNHH MTV Cấp nước Đắk Lắk cho biết: “Mùa mình khai thác là trùng với mùa tưới cà phê, hồ tiêu; nông nghiệp bây giờ tưới tiêu quá lớn. 10 năm trước thì giếng có độ sâu so với mặt đất là từ 80 – 90 mét, nhưng hiện giờ xuống đến 110 – 111 mét, xuống hẳn đi từ 10 – 15 mét”.

    Một bất cập khác là phần lớn các công trình thủy lợi ở Tây Nguyên chỉ ưu tiên cây lúa, hiệu quả kinh tế thấp; trong khi nhiều cây trồng chủ lực có giá trị kinh tế cao như cà phê, hồ tiêu và các loại cây ăn quả thì ít được chú trọng.

    Toàn vùng hiện có khoảng 600.000 hecta cà phê, 60.000 hecta hồ tiêu, phần lớn do nông dân tự tìm lấy nguồn nước tưới bằng việc đào giếng, khoan giếng; chỉ khoảng 30% diện tích cà phê của các doanh nghiệp Nhà nước được đầu tư công trình thủy lợi, hiện đã xuống cấp nghiêm trọng. Nhiều công trình được Nhà nước đầu tư không đồng bộ; chưa có hệ thống kênh mương, nên còn khoảng 150.000 hecta cây trồng nằm trong khả năng cấp nước nhưng chưa được tưới.

    Phần 3: Cần những giải pháp tổng thể
    Nhóm PV thường trú VOV tại Tây Nguyên
    Read More
    22 Th12

    Giải pháp nào cho thuỷ lợi Tây Nguyên - Phần 1

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments phương pháp tưới tiết kiệm nước cho cây Thanh Long, tưới tiết kiệm nước

    Tưới nhỏ giọt tiết kiệm nước cho cây công nghiệp

    [su_quote]Thủy lợi với Tây Nguyên đang là vấn đề vừa cấp bách vừa mang tầm chiến lược lâu dài khi vùng đất bazan màu mỡ này đang chịu khô hạn, thiếu nước sản xuất trầm trọng.[/su_quote]

    Tay nguyen kho han tram trongTây Nguyên là một trong những vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của cả nước, với nhiều loại nông sản hàng hóa có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên, vùng đất bazan màu mỡ này đang đối mặt với tình trạng khô hạn khốc liệt, thiếu nước sản xuất ngày càng trầm trọng. Bên cạnh sự tác động của biến đổi khí hậu thì nguyên nhân chính là do con người. Thủy lợi đối với Tây Nguyên đang là một vấn đề vừa cấp bách vừa mang tầm chiến lược lâu dài.Thời điểm này, người trồng cà phê ở Tây Nguyên vừa thu hoạch vừa tất bật lo nước tưới cho mùa khô. Ông Lê Quang ở thôn 23, xã Ea Ninh, huyện Chư Kuin, tỉnh Đắk Lắk có nửa hecta cà phê trồng xen hồ tiêu. Mặc dù đã nỗ lực tìm nguồn nước tưới cứu cây trồng, nhưng năng suất cà phê và hồ tiêu đều giảm sút.Ông Lê Quang cho biết: “Cái giếng này là hơn 20m, nhưng nó ra mạch bé nên phải tưới 4, 5 ngày mới xong 5 sào đất này. Sau đó mua máy, mình đưa xuống suối dưới kia, rải dây lên đây 13 cuộn. Giờ mình phải thuê người tới khoan, cái đang tưới đó là 60m. Mình làm cà phê tưới 3 đến 4 đợt, riêng năm nay nắng nhiều, tưới đến 6 đợt”.Ở vùng trọng điểm trồng cà phê của tỉnh Đắk Lắk, ông Nguyễn Anh Hào – Chủ nhiệm Hợp tác xã Nông nghiệp Công Bằng, thuộc xã Cư Dlêi M’nông, huyện Chư M’gar cũng chung nỗi lo thiếu nước tưới, dù mùa khô chỉ mới bắt đầu.Ông Nguyễn Anh Hào cho hay: “Cà phê thì phải tưới nước mùa khô, có những vùng thiếu nước trầm trọng. Theo dự báo, tới đây sẽ là năm hạn hán, nỗi lo của bà con thiếu nước. Những năm trước thì bà con tưới suối, tưới hồ, nhưng hiện nay diện tích rất lớn, kể cả trên đồi cao, lượng nước rất thiếu. Bà con đào giếng để tưới, nhưng dần dần giếng cạn, bà con khoan sâu xuống 70, 80 mét, chắc chắn những năm tiếp theo nguồn nước sẽ thiếu”.

    radiovietnam_Giải pháp nào cho thủy lợi Tây Nguyên? - Bài 1: Tây Nguyên khô khát
    Hồ Đắc Yên, Kon Tum cạn trơ đáy (Ảnh: PV VOV)

    Theo UBND tỉnh Đắk Lắk, năm nay có hơn 80.000 hecta cây trồng các loại bị hạn, trong đó gần 15.000 hecta mất trắng, thiệt hại khoảng 2.100 tỷ đồng, hàng chục nghìn hecta cà phê và hồ tiêu bị ảnh hưởng lâu dài. Là vùng trồng cây công nghiệp chủ lực có giá trị kinh tế cao như cà phê và hồ tiêu, tỉnh Gia Lai cũng bị thiệt hại nặng nề do hạn hán.

    Không chỉ nông dân gặp khó khăn, mà ngay cả doanh nghiệp có điều kiện chủ động hồ đập như Công ty TNHH MTV Cà phê Ia Grai cũng điêu đứng vì nắng hạn. Ông Nguyễn Đại Ngọc, Giám đốc Công ty này cho biết: “Tôi công tác tại Tây Nguyên 35 năm rồi và lịch sử chưa có năm nào hạn hán khốc liệt như năm nay. Chúng tôi có 11 cái hồ thì hiện nay đều tình trạng trơ đáy như thế này. Đây là chứng minh nhất cho biến đổi khí hậu, khi mà nhiệt độ tăng lên, còn lượng mưa giảm dần đi so với các năm trước đây”.

    Còn ông Hoàng Phước Bính, gần 30 năm gắn bó với thủ phủ hồ tiêu Chư Sê, tỉnh Gia Lai thì cho biết: “Vụ mùa 2014-2015, do yếu tố khách quan là thời tiết, khí hậu bất thường nên năng suất giảm. Bản thân chúng tôi theo dõi cây hồ tiêu gần 30 năm có thể nói rằng, năm nay là năm năng suất thấp nhất trong mấy chục năm qua. Có nhiều vườn tiêu giảm đến 60 – 70%, tựu chung lại là giảm đến 30 – 40%”.

    Không chỉ hạn hán mùa khô, mà vài năm nay, Tây Nguyên còn thiếu nước cả giữa mùa mưa. Tháng 6 năm nay là vào mùa mưa, nhưng công trình đại thủy nông Ayun Hạ – hồ thủy lợi lớn nhất Tây Nguyên (có dung tích 253 triệu mét khối) cạn đến mực nước chết, khiến hàng chục nghìn hecta lúa nước, mía, sắn và hoa màu ở khu vực Đông Nam Gia Lai bị ảnh hưởng, tổng thiệt hại hơn 150 tỷ đồng.

    Ở cực Nam Tây Nguyên, hai huyện Cát Tiên và Đạ Tẻ là vựa lúa của tỉnh Lâm Đồng, trước đây là rốn lũ, hàng năm được bù đắp phù sa màu mỡ, nhưng năm nay khô khát vì nước sông Đồng Nai giảm sâu, các trạm bơm công suất lớn cũng trơ vòi. Mực nước ở hầu hết các hồ chứa trên địa bàn đều tụt giảm từ một đến vài mét.

    radiovietnam_Giải pháp nào cho thủy lợi Tây Nguyên? - Bài 1: Tây Nguyên khô khát
    Nông dân Tây Nguyên nỗ lực tìm nguồn nước tưới cho cà phê (Ảnh: PV VOV)

    Tình hình ở 2 tỉnh Đắc Nông và Kon Tum cũng tương tự. Riêng Đắk Nông có hơn 500 hecta lúa thiếu nước, khoảng 21.000 hecta cà phê và hồ tiêu bị ảnh hưởng. Vụ hè thu vừa rồi, gia đình chị Phạm Thị Huê ở xã Quảng Phú, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông trồng 1 hecta ngô nhưng không có thu hoạch vì nắng hạn. Mùa khô tới, chị lại lo 1 hecta cà phê và 6 sào ruộng không có nước tưới.

    Chị Huê cho biết: “Bà con đang lo, cây bắp bỏ rồi, không thu hoạch được vì không có nước tưới, còn ruộng đang dọn để làm. Nếu không có nước về thì cũng bỏ luôn, cà phê tưới nước của mương này cũng bỏ luôn. Năm ngoái tưới 3 lần năm nay cũng phải tưới 4 lần, đang dự đoán không biết có đủ nước tưới hay không, không đủ thì phải bỏ cà phê”.

    Theo dự báo, thời gian tới Tây Nguyên tiếp tục đối mặt với tình hình khô hạn gay gắt. Lượng mưa sẽ thấp hơn so với trung bình nhiều năm từ 20 – 40%, vì vậy dòng chảy trên các sông suối sẽ thiếu hụt tương ứng.

    Ông Y Đhăm Ênhuôn, Phó chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk cho biết, tỉnh này dự kiến cắt giảm hơn 5.000 hecta lúa và cây trồng ngắn ngày, hơn 10.000 hecta phải chống hạn cuối vụ. Nhưng đối với khoảng 250.000 hecta cà phê và hồ tiêu thì không có giải pháp nào khả thi.

    Ông Y Đhăm Ênhuôn cho biết: “Tất cả các hồ thủy lợi thường lại không nằm trong vùng trồng các cây công nghiệp dài ngày. Mà mực nước ngầm ở Tây Nguyên nói chung, Đắc Lắc nói riêng liên tục tụt xuống. Như vậy là xây dựng kế hoạch để chống hạn cho cây công nghiệp dài ngày là không có phương án nào khả thi. Rất nhiều diện tích không có nguồn nước, kể cả đào giếng, khoan giếng”.

    Phần 2: Tây Nguyên đang trả giá 
    Phần 3: Cần những giải pháp tổng thể
    Nhóm PV thường trú VOV tại Tây Nguyên

     

     

    Read More
    22 Th12

    Giải pháp nào cho thủy lợi Tây Nguyên? Tây Nguyên đang trả giá - Phần 2

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments

    Phần 1: Tây Nguyên khô khát

    Tây Nguyên đang phải trả giá quá đắt khi xây dựng các nhà máy thủy điện thiếu quy hoạch cùng với nạn phá rừng tàn khốc khiến nguồn nước bị suy giảm trầm trọng.

    Như chúng tôi đã đề cập trong bài viết trước, tình trạng khô hạn ở Tây Nguyên – vùng trọng điểm nông nghiệp của cả nước đã gây ra nhiều thiệt hại, không thể tính hết bằng tiền. Trong bài viết tiếp theo, chúng tôi phân tích về nguyên nhân của thực trạng này. Đó là việc đầu tư xây dựng các công trình thủy điện không tính hết tác động môi trường.

    Các công trình thủy lợi thì không phù hợp với tiềm năng, thế mạnh của vùng, công tác quản lý khai thác còn nhiều bất cập. Rồi tình trạng phá rừng, khai thác nước ngầm vô tội vạ, khiến trữ lượng nước ngày càng suy giảm.

    radiovietnam_Giải pháp nào cho thủy lợi Tây Nguyên? - Bài 2: Tây Nguyên đang trả giá
    Do thủy điện An Khê – Kanak chuyển nước về sông Kôn (Bình Định), sông Ba ở Gia Lai thành “sông chết” (Ảnh: PV VOV)

    Sự can thiệp thô bạo của con người đã tác động trực tiếp đến nguồn nước ở Tây Nguyên trong những năm qua, trước hết là việc xây dựng hàng loạt nhà máy thủy điện trên hầu hết các dòng sông lớn. Điển hình là dự án thủy điện An Khê – Ka Nak ở tỉnh Gia Lai đã chặn ngang dòng chảy sông Ba từ thượng nguồn, rồi chuyển nước về sông Kôn, tỉnh Bình Định; sông Ba trở thành con “sông chết”.

    Mỗi năm, hơn 300 tỷ mét khối nước sông Ba đã bị chuyển về Bình Định, khiến hàng chục nghìn hecta đất sản xuất ở 6 huyện, thị xã của tỉnh Gia Lai bị khô hạn. Khoảng 400.000 dân sinh sống dọc lưu vực sông Ba phải gánh chịu sự ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt.

    Suốt cả nhiệm kỳ làm Chủ tịch HĐND tỉnh Gia Lai, ông Phạm Đình Thu luôn luôn bị áp lực bởi công trình thủy điện này: “Thủy điện An Khê – Kanak là vấn đề lâu dài, căng thẳng lắm, không biết đến lúc nào kết thúc được. Cuộc tiếp cử tri nào cũng nói hết sức gay gắt. Bây giờ nó ảnh hưởng đến lưu vực là gần 400.000 dân ở hạ lưu chứ không phải chỉ có An Khê không. Việc dịch chuyển nguồn nước là tác hại cực kỳ to lớn”.

    Tương tự như vậy, hệ thống sông Serepok (hợp lưu của sông Krông Nô và Krông Ana) chảy qua 2 tỉnh Đắk Nông và Đắk Lắk cũng bị “chặt” ra nhiều khúc để xây dựng thủy điện, ảnh hưởng rất lớn đến nguồn nước thủy lợi. Từ khi nhà máy thủy điện Buôn Tuar Srah chặn dòng Krông Nô, nguồn nước sản xuất của 8 xã, thuộc tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông bị ảnh hưởng.

    Dưới hạ nguồn, nhà máy thủy điện Serepok 4A chặn dòng tại huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk, chuyển nước sang khu vực khác để phát điện, khiến hàng chục km sông Serepok trơ đáy. Việc làm này đã gây hạn hán ở vùng hạ du, ảnh hưởng hệ sinh thái Vườn quốc gia Yook Đôn, đồng thời biến khu du lịch sinh thái Buôn Đôn vốn rất hấp dẫn, thành một địa chỉ heo hút.

    radiovietnam_Giải pháp nào cho thủy lợi Tây Nguyên? - Bài 2: Tây Nguyên đang trả giá
    Thủy điện Serepok 4A chặn dòng khiến khu du lịch sinh thái Bản Đôn khô khốc (Ảnh: PV VOV)

    Tại Kon Tum, thủy điện Thượng Kon Tum đang được xây dựng, chuyển nước từ sông Đăk Snghé, tỉnh Kon Tum sang sông Trà Khúc, tỉnh Quảng Ngãi, chắc chắn sẽ gây thảm cảnh tồi tệ không kém so với những gì đang diễn ra ở hạ lưu thuỷ điện An Khê – Kanak, tỉnh Gia Lai, khu du lịch Buôn Đôn tỉnh Đắk Lắk hay như ở thác Pongour – Lâm Đồng, thác nước thơ mộng và hùng vĩ bậc nhất Tây Nguyên.

    Bà Trương Thị Đáng quản lý Khu du lịch sinh thái Thác Pongour nói: “Khi xây dựng đập thủy điện Đại Ninh thì hầu như nguồn nước dòng sông Đa Nhim về hạ nguồn của thác Pongour là không còn, không đủ nước để mà cung cấp cho cây trồng và nước về với thác, cạn kiệt luôn. Mặc dù thủy điện Đại Ninh cam kết xả về dòng sông Đa Nhim này một phút là bao nhiêu khối nước đó nhưng mà thực tế thì họ không thực hiện theo yêu cầu đó”.

    Đúng là Tây Nguyên đang phải trả giá quá đắt và chưa biết khi nào thôi trả giá. Cùng với việc thiếu tính toán khi xây dựng các nhà máy thủy điện, nạn phá rừng tàn khốc ở Tây Nguyên cũng là tác nhân khiến nguồn nước bị suy giảm trầm trọng.

    Theo Tổng cục lâm nghiệp, 7 năm qua, Tây Nguyên mất gần 360.000 hecta rừng. Một số liệu thống kê khác cho thấy, 30 năm qua, 1/3 diện tích rừng ở Tây Nguyên bị tàn phá, với diện tích hơn 1 triệu 500 nghìn hecta, khiến độ che phủ suy giảm nhanh chóng, mất đi khả năng giữ nước.

    Ông Trương Vân, Giám đốc Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Gia Lai cho rằng: “Phá rừng là một tác động rất lớn, tức là nó đã xóa đi những thảm thực vật. Còn việc chuyển đổi rừng nghèo thì tôi nghĩ là nó cũng ảnh hưởng rất lớn. Vì trước đây người dân trồng lúa cạn ở đầu nguồn, bây giờ chuyển qua trồng cà phê, hồ tiêu. Như vậy là cùng một thời điểm, vừa tưới cho lúa nhưng thượng nguồn người ta sử dụng bơm lấy nước để tưới cho cà phê, hồ tiêu nên lượng nước rất thiếu”.

    radiovietnam_Giải pháp nào cho thủy lợi Tây Nguyên? - Bài 2: Tây Nguyên đang trả giá
    Thủy điện Đại Ninh chuyển nước sông Đa Nhim từ Lâm Đồng về Ninh Thuận khiến thác Ponguor cạn nước (Ảnh: PV VOV)

    Trong khi thuỷ điện đổ nước đi nơi khác, rồi mất rừng – mất khả năng giữ nước, thì việc chống hạn ở Tây Nguyên dồn vào các công trình thuỷ lợi. Tây Nguyên hiện có 2.260 công trình thủy lợi, với 1.150 hồ chứa, gần 950 đập dâng, hàng trăm trạm bơm và gần 5.000 km kênh mương. Thế nhưng, hàng trăm công trình thủy lợi xuống cấp, bị bồi lắng, phần còn lại thì quản lý vận hành yếu kém. Mùa lũ xả sai quy trình gây ngập úng. Mùa hạn thì dùng lãng phí vào đầu vụ để cuối vụ cạn khô.

    Ông Mai Trọng Dũng, Phó giám đốc Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk nêu thực tế: “Các công trình trước đây giao cho địa phương quản lý thì giao cho huyện, huyện giao cho xã, xã lại giao cho một người cán bộ giao thông – thủy lợi; và công trình đó lại giao về cho thôn, buôn, thì ông trưởng thôn, buôn quản lý, để nhiều công trình xuống cấp, đặc biệt một số công trình để dân lấn chiếm. Các công ty cà phê thì việc đâu tư nâng cấp gần như không còn, nên cũng ảnh hưởng đến năng lực tưới của công trình”.

    Tình trạng khai thác nước ngầm vô tội vạ cũng khiến cho Tây Nguyên ngày càng khô khát. Kết quả nghiên cứu của Chương trình cảnh quan bền vững, thuộc tổ chức IDH của Hà Lan cho thấy, khoảng 5 năm trở lại đây, mực nước ngầm ở Tây Nguyên mỗi năm tụt xuống từ 3 đến 5m, trữ lượng nước đã giảm từ 30 – 35%.

    Qua thực tế hoạt động khai thác nước ngầm của đơn vị, ông Trần Văn Thiện, Giám đốc Công ty TNHH MTV Cấp nước Đắk Lắk cho biết: “Mùa mình khai thác là trùng với mùa tưới cà phê, hồ tiêu; nông nghiệp bây giờ tưới tiêu quá lớn. 10 năm trước thì giếng có độ sâu so với mặt đất là từ 80 – 90 mét, nhưng hiện giờ xuống đến 110 – 111 mét, xuống hẳn đi từ 10 – 15 mét”.

    Một bất cập khác là phần lớn các công trình thủy lợi ở Tây Nguyên chỉ ưu tiên cây lúa, hiệu quả kinh tế thấp; trong khi nhiều cây trồng chủ lực có giá trị kinh tế cao như cà phê, hồ tiêu và các loại cây ăn quả thì ít được chú trọng.

    Toàn vùng hiện có khoảng 600.000 hecta cà phê, 60.000 hecta hồ tiêu, phần lớn do nông dân tự tìm lấy nguồn nước tưới bằng việc đào giếng, khoan giếng; chỉ khoảng 30% diện tích cà phê của các doanh nghiệp Nhà nước được đầu tư công trình thủy lợi, hiện đã xuống cấp nghiêm trọng. Nhiều công trình được Nhà nước đầu tư không đồng bộ; chưa có hệ thống kênh mương, nên còn khoảng 150.000 hecta cây trồng nằm trong khả năng cấp nước nhưng chưa được tưới.

    Read More
    22 Th12

    Giải pháp nào cho thuỷ lợi Tây Nguyên - Phần 1

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments

    Tưới nhỏ giọt tiết kiệm nước cho cây công nghiệp

    [su_quote]Thủy lợi với Tây Nguyên đang là vấn đề vừa cấp bách vừa mang tầm chiến lược lâu dài khi vùng đất bazan màu mỡ này đang chịu khô hạn, thiếu nước sản xuất trầm trọng.[/su_quote]

    Tay nguyen kho han tram trongTây Nguyên là một trong những vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của cả nước, với nhiều loại nông sản hàng hóa có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên, vùng đất bazan màu mỡ này đang đối mặt với tình trạng khô hạn khốc liệt, thiếu nước sản xuất ngày càng trầm trọng. Bên cạnh sự tác động của biến đổi khí hậu thì nguyên nhân chính là do con người. Thủy lợi đối với Tây Nguyên đang là một vấn đề vừa cấp bách vừa mang tầm chiến lược lâu dài.Thời điểm này, người trồng cà phê ở Tây Nguyên vừa thu hoạch vừa tất bật lo nước tưới cho mùa khô. Ông Lê Quang ở thôn 23, xã Ea Ninh, huyện Chư Kuin, tỉnh Đắk Lắk có nửa hecta cà phê trồng xen hồ tiêu. Mặc dù đã nỗ lực tìm nguồn nước tưới cứu cây trồng, nhưng năng suất cà phê và hồ tiêu đều giảm sút.Ông Lê Quang cho biết: “Cái giếng này là hơn 20m, nhưng nó ra mạch bé nên phải tưới 4, 5 ngày mới xong 5 sào đất này. Sau đó mua máy, mình đưa xuống suối dưới kia, rải dây lên đây 13 cuộn. Giờ mình phải thuê người tới khoan, cái đang tưới đó là 60m. Mình làm cà phê tưới 3 đến 4 đợt, riêng năm nay nắng nhiều, tưới đến 6 đợt”.Ở vùng trọng điểm trồng cà phê của tỉnh Đắk Lắk, ông Nguyễn Anh Hào – Chủ nhiệm Hợp tác xã Nông nghiệp Công Bằng, thuộc xã Cư Dlêi M’nông, huyện Chư M’gar cũng chung nỗi lo thiếu nước tưới, dù mùa khô chỉ mới bắt đầu.Ông Nguyễn Anh Hào cho hay: “Cà phê thì phải tưới nước mùa khô, có những vùng thiếu nước trầm trọng. Theo dự báo, tới đây sẽ là năm hạn hán, nỗi lo của bà con thiếu nước. Những năm trước thì bà con tưới suối, tưới hồ, nhưng hiện nay diện tích rất lớn, kể cả trên đồi cao, lượng nước rất thiếu. Bà con đào giếng để tưới, nhưng dần dần giếng cạn, bà con khoan sâu xuống 70, 80 mét, chắc chắn những năm tiếp theo nguồn nước sẽ thiếu”.

    radiovietnam_Giải pháp nào cho thủy lợi Tây Nguyên? - Bài 1: Tây Nguyên khô khát
    Hồ Đắc Yên, Kon Tum cạn trơ đáy (Ảnh: PV VOV)

    Theo UBND tỉnh Đắk Lắk, năm nay có hơn 80.000 hecta cây trồng các loại bị hạn, trong đó gần 15.000 hecta mất trắng, thiệt hại khoảng 2.100 tỷ đồng, hàng chục nghìn hecta cà phê và hồ tiêu bị ảnh hưởng lâu dài. Là vùng trồng cây công nghiệp chủ lực có giá trị kinh tế cao như cà phê và hồ tiêu, tỉnh Gia Lai cũng bị thiệt hại nặng nề do hạn hán.

    Không chỉ nông dân gặp khó khăn, mà ngay cả doanh nghiệp có điều kiện chủ động hồ đập như Công ty TNHH MTV Cà phê Ia Grai cũng điêu đứng vì nắng hạn. Ông Nguyễn Đại Ngọc, Giám đốc Công ty này cho biết: “Tôi công tác tại Tây Nguyên 35 năm rồi và lịch sử chưa có năm nào hạn hán khốc liệt như năm nay. Chúng tôi có 11 cái hồ thì hiện nay đều tình trạng trơ đáy như thế này. Đây là chứng minh nhất cho biến đổi khí hậu, khi mà nhiệt độ tăng lên, còn lượng mưa giảm dần đi so với các năm trước đây”.

    Còn ông Hoàng Phước Bính, gần 30 năm gắn bó với thủ phủ hồ tiêu Chư Sê, tỉnh Gia Lai thì cho biết: “Vụ mùa 2014-2015, do yếu tố khách quan là thời tiết, khí hậu bất thường nên năng suất giảm. Bản thân chúng tôi theo dõi cây hồ tiêu gần 30 năm có thể nói rằng, năm nay là năm năng suất thấp nhất trong mấy chục năm qua. Có nhiều vườn tiêu giảm đến 60 – 70%, tựu chung lại là giảm đến 30 – 40%”.

    Không chỉ hạn hán mùa khô, mà vài năm nay, Tây Nguyên còn thiếu nước cả giữa mùa mưa. Tháng 6 năm nay là vào mùa mưa, nhưng công trình đại thủy nông Ayun Hạ – hồ thủy lợi lớn nhất Tây Nguyên (có dung tích 253 triệu mét khối) cạn đến mực nước chết, khiến hàng chục nghìn hecta lúa nước, mía, sắn và hoa màu ở khu vực Đông Nam Gia Lai bị ảnh hưởng, tổng thiệt hại hơn 150 tỷ đồng.

    Ở cực Nam Tây Nguyên, hai huyện Cát Tiên và Đạ Tẻ là vựa lúa của tỉnh Lâm Đồng, trước đây là rốn lũ, hàng năm được bù đắp phù sa màu mỡ, nhưng năm nay khô khát vì nước sông Đồng Nai giảm sâu, các trạm bơm công suất lớn cũng trơ vòi. Mực nước ở hầu hết các hồ chứa trên địa bàn đều tụt giảm từ một đến vài mét.

    radiovietnam_Giải pháp nào cho thủy lợi Tây Nguyên? - Bài 1: Tây Nguyên khô khát
    Nông dân Tây Nguyên nỗ lực tìm nguồn nước tưới cho cà phê (Ảnh: PV VOV)

    Tình hình ở 2 tỉnh Đắc Nông và Kon Tum cũng tương tự. Riêng Đắk Nông có hơn 500 hecta lúa thiếu nước, khoảng 21.000 hecta cà phê và hồ tiêu bị ảnh hưởng. Vụ hè thu vừa rồi, gia đình chị Phạm Thị Huê ở xã Quảng Phú, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông trồng 1 hecta ngô nhưng không có thu hoạch vì nắng hạn. Mùa khô tới, chị lại lo 1 hecta cà phê và 6 sào ruộng không có nước tưới.

    Chị Huê cho biết: “Bà con đang lo, cây bắp bỏ rồi, không thu hoạch được vì không có nước tưới, còn ruộng đang dọn để làm. Nếu không có nước về thì cũng bỏ luôn, cà phê tưới nước của mương này cũng bỏ luôn. Năm ngoái tưới 3 lần năm nay cũng phải tưới 4 lần, đang dự đoán không biết có đủ nước tưới hay không, không đủ thì phải bỏ cà phê”.

    Theo dự báo, thời gian tới Tây Nguyên tiếp tục đối mặt với tình hình khô hạn gay gắt. Lượng mưa sẽ thấp hơn so với trung bình nhiều năm từ 20 – 40%, vì vậy dòng chảy trên các sông suối sẽ thiếu hụt tương ứng.

    Ông Y Đhăm Ênhuôn, Phó chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk cho biết, tỉnh này dự kiến cắt giảm hơn 5.000 hecta lúa và cây trồng ngắn ngày, hơn 10.000 hecta phải chống hạn cuối vụ. Nhưng đối với khoảng 250.000 hecta cà phê và hồ tiêu thì không có giải pháp nào khả thi.

    Ông Y Đhăm Ênhuôn cho biết: “Tất cả các hồ thủy lợi thường lại không nằm trong vùng trồng các cây công nghiệp dài ngày. Mà mực nước ngầm ở Tây Nguyên nói chung, Đắc Lắc nói riêng liên tục tụt xuống. Như vậy là xây dựng kế hoạch để chống hạn cho cây công nghiệp dài ngày là không có phương án nào khả thi. Rất nhiều diện tích không có nguồn nước, kể cả đào giếng, khoan giếng”.

    Phần 2: Tây Nguyên đang trả giá
    Nhóm PV thường trú VOV tại Tây Nguyên

     

    Read More
    • Prev
    • 1
    • 2
    • …
    • 14
    • 15
    • 16
    • 17
    • 18
    • …
    • 37
    • 38
    • Next

    VẬN CHUYỂN

    Toàn quốc

    KHUYẾN MẠI

    & Quà tặng

    LIÊN HỆ

    0917 367 763

    UY TÍN

    & Chất lượng

    Cửa hàng

    • Hướng dẫn lắp đặt
    • Hỏi đáp
    • Ứng dụng mô hình tưới
    • Tin nông nghiệp
    • Tuyển dụng
    • Catalogue
    • Tin Nông Nghiệp
    • Ứng Dụng Mô Hình Tưới
    • Tuyển dụng
    • Tưới nông nghiệp
    • Thư viện
    • Giới thiệu

    Thông tin

    • Giới thiệu
    • Tin tức
    • Đội ngũ nhân viên
    • Làm đại lý phân phối
    • Chúng tôi đại diện cho
    • Liên hệ

    Hỗ trợ

    • Giao nhận hàng hóa
    • Thanh toán
    • Hướng dẫn mua hàng
    • Trả & đổi hàng
    • Chính sách bảo hành
    • Chính sách bảo mật thông tin

    Tài khoản

    • Giới thiệu
    • Video
    • Liên hệ
    • Tưới phun mưa
    • Tưới nhỏ giọt
    • Tưới cảnh quan
    • Tưới phun sương

    LIÊN HỆ MINH VŨ CO., LTD

    • 85. Nguỵ Như Kon Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
    • Email : minhvu1014@gmail.com
    • Điện thoại : 04 322 168 01

    CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG MINH VŨ

    © 2013-2017 All Rights Reversed.

    Close
    Sign in Or Register
    Forgot your password?

    NEW HERE?

    Registration is free and easy!

    • Faster checkout
    • Save multiple shipping addresses
    • View and track orders and more
    Create an account
    X
    • Menu
    • Categories
    • Trang chủ
    • Cửa hàng
      • Tài khoản
        • Cập nhật tài khoản
        • Cập nhật địa chỉ
        • Xem đơn hàng
        • Quên mật khẩu
      • Thanh toán
    • Tưới nông nghiệp
      • Hướng dẫn lắp đặt
      • Tư vấn chọn thiết bị tưới
      • Ứng dụng mô hình tưới
      • Tin nông nghiệp
      • Câu hỏi thường gặp
    • Thư viện
      • Video
      • Catalogue
    • Liên hệ
    • Tưới phun mưa
      • Béc tưới Ducar
      • Đầu tưới Rivulis
      • Béc tưới Nelson USA
      • Xe tưới tự cuốn Irrifrance
      • Béc tưới Đài Loan
      • Dây tưới phun mưa
    • Tưới nhỏ giọt
      • Dây (ống) tưới nhỏ giọt
        • Tưới nhỏ giọt DiG
        • Rivulis Israel
        • Tưới nhỏ giọt Seowon
      • Đầu tưới nhỏ giọt
      • Ống PE
      • Thiết bị lọc
      • Thiết bị châm phân
      • Phụ kiện ống PE
        • Phụ kiện ống 6mm
        • Phụ kiện ống 12mm
        • Phụ kiện ống 16mm
        • Phụ kiện ống 17mm
        • Phụ kiện ống 20mm
        • Phụ kiện ống 25mm
      • Phụ kiện tưới nhỏ giọt khác
    • Tưới cảnh quan
      • DIG USA
      • Cellfast
      • Hunter USA
    • Tưới phun sương
    • Van điện tử, bộ hẹn giờ
    • Ống nước – phụ kiện
    • Bơm nông nghiệp