Tài khoản

  • Giỏ hàng
  • Thanh toán
  • Tài khoản
  • Login
Giải pháp tưới tự động tối ưu trong nông nghiệp. Tưới nhỏ giọt - phun mưa - phun sương.
Tưới Nông Nghiệp Tự Động
  • Trang chủ
  • Cửa hàng
    • Tài khoản
      • Cập nhật tài khoản
      • Cập nhật địa chỉ
      • Xem đơn hàng
      • Quên mật khẩu
    • Thanh toán
  • Tưới nông nghiệp
    • Hướng dẫn lắp đặt
    • Tư vấn chọn thiết bị tưới
    • Ứng dụng mô hình tưới
    • Tin nông nghiệp
    • Câu hỏi thường gặp
  • Thư viện
    • Video
    • Catalogue
  • Liên hệ
0964 824 106 / 0917367763
Email: minhvu1014@gmail.com
All Departments
  • Tưới phun mưa
    • Béc tưới Ducar
    • Đầu tưới Rivulis
    • Béc tưới Nelson USA
    • Xe tưới tự cuốn Irrifrance
    • Béc tưới Đài Loan
    • Dây tưới phun mưa
  • Tưới nhỏ giọt
    • Dây (ống) tưới nhỏ giọt
      • Tưới nhỏ giọt DiG
      • Rivulis Israel
      • Tưới nhỏ giọt Seowon
    • Đầu tưới nhỏ giọt
    • Ống PE
    • Thiết bị lọc
    • Thiết bị châm phân
    • Phụ kiện ống PE
      • Phụ kiện ống 6mm
      • Phụ kiện ống 12mm
      • Phụ kiện ống 16mm
      • Phụ kiện ống 17mm
      • Phụ kiện ống 20mm
      • Phụ kiện ống 25mm
    • Phụ kiện tưới nhỏ giọt khác
  • Tưới cảnh quan
    • DIG USA
    • Cellfast
    • Hunter USA
  • Tưới phun sương
  • Van điện tử, bộ hẹn giờ
  • Ống nước – phụ kiện
  • Bơm nông nghiệp
0
There are 0 item(s) in your cart
    Subtotal: 0 ₫
    View Cart
    Check Out
    • Home
    • Đan

    Chuyên mục

    Bài viết mới nhất

    • Chi Phí Lắp Đặt Hệ Thống Tưới Phun Mưa Cục Bộ Cho Cây Cam
    • ĐẦU TƯỚI PHUN MƯA RONDO
    • CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG MINH VŨ Tham Gia Triển Lãm Growtech
    • Kỹ thuật tưới cam
    • KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÀ CHUA TRONG NHÀ MÀNG
    • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Dưa Hấu
    • Tưới phun mưa cục bộ cho cây sầu riêng

    Đan

    Lai Tạo Đàn Bò Hiệu Quả

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments Đan
    Nguồn: Báo Bình Định, 22/09/2013
    Ngày đăng tin: 24/09/2013

    Những năm gần đây, được sự quan tâm hỗ trợ của Nhà nước, huyện An Lão (Bình Định) đã triển khai chương trình cải tạo đàn bò, tăng tỉ lệ bò lai, góp phần phát triển ngành chăn nuôi đại gia súc ở địa phương, giúp nhiều hộ nông dân vươn lên làm giàu chính đáng.

    chan nuoi trau

    Chăn nuôi trâu – bò đàn ở huyện An Lão.

    Huyện miền núi An Lão có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển ngành chăn nuôi đại gia súc. Tuy nhiên, trước đây do tập quán chăn nuôi lạc hậu, bò giống chưa được lựa chọn kỹ nên hiệu quả chăn nuôi thấp. Để giúp nông dân chăn nuôi có hiệu quả, huyện An Lão đã triển khai chương trình cải tạo đàn bò theo hướng lai bò nhập ngoại, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi, chế biến thức ăn cho bò và giúp người dân chuyển dần tập quán nuôi bò truyền thống sang nuôi bò đàn mang tính sản xuất hàng hóa, đem lại hiệu quả kinh tế cao.

    Trong 7 năm trở lại đây, bằng nhiều nguồn vốn, huyện An Lão đã đầu tư gần 58 tỉ đồng hỗ trợ người dân phát triển chăn nuôi theo hướng hàng hóa. Huyện cũng đã tổ chức 117 lớp đào tạo, tập huấn hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi cho 5.405 lượt cán bộ và nông dân địa phương, trong đó có 3 lớp đào tạo nghề thú y, 10 lớp tập huấn kỹ thuật thụ tinh và chăn nuôi bò lai.

    Huyện đã trích ngân sách hàng trăm triệu đồng/năm hỗ trợ mua vắc xin phòng trừ dịch bệnh cho đàn bò, mua tinh bò giống lai ngoại và hỗ trợ tiền công phối giống bò cho dẫn tinh viên. Huyện cũng đã mua 17 con bò đực giống ngoại phân bổ về các xã để phối giống trực tiếp nhân đàn bò lai; xây dựng nhiều mô hình chăn nuôi bò lai…

    Hiệu quả kinh tế từ chăn nuôi bò lai ở An Lão đã khá rõ, bò lai chiếm ưu thế vượt trội so với bò cỏ địa phương cả về trọng lượng và chất lượng thịt. Gia đình ông Bùi Long Đức, ở thôn Tân An, xã An Tân, trước đây nuôi bò vàng, sau khi có chương trình cải tạo, nâng cao chất lượng đàn bò, gia đình ông đã mua một con bò đực giống lai Zêbu cho thụ tinh trực tiếp với 4 con bò cái nền địa phương.

    Hai năm sau, đàn bò của ông đã sinh được 8 con bê lai. Chỉ sau 10 tháng nuôi, ông xuất bán với giá từ 13 đến 15 triệu đồng/con. Hàng năm, từ chăn nuôi bò lai, gia đình ông đã có nguồn thu thêm từ 50-60 triệu đồng. Ông Đức bộc bạch: “Trước đây, trung bình mỗi con bê cỏ chỉ bán được 4 -5 triệu đồng, còn hiện tại mỗi con bê lai có giá gần gấp đôi. Nuôi bò lai sẽ giúp nông dân nhanh chóng cải thiện đời sống”.

    Trong 7 năm qua, số lượng bò lai ở An Lão đã tăng từ 1.567 con lên 3.000 con, chiếm 41,7% tổng đàn; kế hoạch phấn đấu đến năm 2015 toàn huyện có tổng đàn bò 8.300 con, trong đó bò lai chiếm 50%. Ông Phạm Minh Tâm, Phó Trưởng phòng NN-PTNT huyện An Lão, cho biết: “Huyện đã đưa ra nhiều giải pháp thực hiện, trong đó chú trọng mở lớp tập huấn kỹ thuật chăn nuôi bò cho người dân. Áp dụng nhiều chế độ ưu đãi nhằm khuyến khích thực hiện lai tạo đàn bò theo phương pháp thụ tinh nhân tạo.

    Vận động nhân dân vỗ béo giống bò cỏ địa phương bán thịt và nhân nuôi giống bò lai cho hiệu quả kinh tế cao hơn. Tiếp tục quy hoạch lại đồng cỏ, bãi chăn thả tự nhiên, tuyên truyền cho người dân từ bỏ tập quán chăn nuôi thả rông chuyển sang chăn nuôi có chuồng trại, trồng cỏ cao sản, chế biến và dự trữ thức ăn từ phụ phẩm nông nghiệp cho gia súc vào mùa đông. Tăng cường công tác tiêm phòng, kiểm dịch, kiểm soát giết mổ, vận chuyển gia súc, vệ sinh thú y nhằm ngăn ngừa dịch bệnh trên đàn gia súc.


    Nông nghiệp và Thuỷ sản Việt Nam – Vietnam Agriculture and Aquaculture

    Read More

    Dùng Chế phẩm EM xử lý rác thải: Người dân thu lợi ích kép

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments xử, Đan
    Hoạt động này mở ra triển vọng trong việc ứng dụng công nghệ giảm thiểu ô nhiễm môi trường, làm tăng hiệu quả sản xuất…

    Chúng tôi đến gia đình ông Tạ Đăng Phong (thôn Yên Thái) vừa lúc nhà ông vừa ăn xong cơm trưa. Nhanh thoăn thoắt, Tuấn – cháu ông Phong bê mâm bát rồi lấy tay gạt đồ ăn thừa trên mâm cơm cùng vỏ hoa quả, rau thừa vào chiếc xô nhựa rồi cho vào thùng phân loại rác hữu cơ để ngay trước cửa nhà.

    Ông Tạ Đăng Phong rất hài lòng kể từ khi sử dụng chế phẩm EM để xử lý rác thải.

    Ông Tạ Đăng Phong rất hài lòng kể từ khi sử dụng chế phẩm EM để xử lý rác thải.

    Yên tâm sống chung với rác

    “Ngày trước, thùng rác của gia đình tôi để cách nhà cả chục mét để tránh mùi hôi. Khi Hội ND hướng dẫn chúng tôi xử dụng chế phẩm EM xử lý rác, không ngờ vừa hết mùi hôi, rác còn thành phân bón rất tốt cho cây” – ông Phong cho biết.

    Chế phẩm sinh học EM Bokashi là sáng chế từ Nhật Bản, được Việt Nam mua lại từ năm 2006. Đây là công nghệ hàng đầu trên thế giới áp dụng phân loại xử lý rác thải, hỗ trợ phòng ngừa dịch bệnh, giảm thiểu ô nhiễm môi trường bằng chế phẩm sinh học. Công nghệ đã được phổ biến trên 200 quốc gia, trong đó có những quốc gia phát triển như Đức, Mỹ… Giá của chế phẩm chưa đến 40.000 đồng/lít.

    Trung bình mỗi ngày, gia đình ông thải ra?khoảng 13kg rác sinh hoạt, trong đó khoảng 4kg là rác thải hữu cơ. Nếu áp dụng việc xử lý rác thải bằng chế phẩm EM, hàng tháng ông có khoảng 120kg phân hữu cơ để bón cho vườn cây ăn quả, rau của gia đình.

    Không riêng ông Phong, gia đình anh Nguyễn Khắc Bút (thôn Tiền Lệ) cũng rất hào hứng: “Dùng chế phẩm EM góp phần cải thiện môi trường, giảm lượng rác thải trực tiếp, khử mùi hôi. Giờ gia đình tôi yên tâm “sống chung” với rác”. Anh Bút cho biết, trước đây gia đình anh để rác thải tận ngoài đường, nhưng mùi xú uế, hôi thối vẫn theo gió đưa vào nhà. Từ ngày sử dụng chế phẩm EM, gia đình anh đã đặt thùng rác ngay trước cửa ra vào mà môi trường vẫn rất trong lành.

    Triển vọng nhân rộng

    Ông Tạ Đình Hưng – Chủ tịch Hội ND xã Tiền Yên cho biết: Mô hình “Thu gom, phân loại rác tại nguồn và hướng dẫn sử dụng rác thải hữu cơ làm phân bón cho cây trồng” là chương trình thí điểm được Sở Tài nguyên-Môi trường Hà Nội phối hợp với Hội ND thành phố triển khai ở 100 hộ dân. Theo Sở Tài nguyên-Môi trường Hà Nội, trung bình mỗi ngày khu vực ngoại thành Hà Nội thải ra môi trường khoảng 2.316 tấn rác thải sinh hoạt, Trong đó, rác hữu cơ chiếm khoảng 40-53%. Chưa đầy 1 tháng sau khi triển khai, mô hình điểm đã mang lại hiệu quả trong việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Nhiều hộ không tham gia dự án đã đến học hỏi, đề nghị mua chế phẩm EM để phun khử khuẩn chuồng trại, xử lý rác thải tại gia đình.

    Quy trình thực hành
    Chế phẩm EM pha trộn cùng mật rỉ đường (hoặc đường) và nước theo tỷ lệ 1.1.18 (1 lít chế phẩm pha với 1 lít rỉ mật hoặc đường cộng với 18 lít nước). Tập kết và phân loại rác thải hữu cơ và vô cơ => tách riêng rác thải hữu cơ => đổ đều dung dịch hỗn hợp nước chế phẩm đã pha sẵn lên mặt rác (cứ 20cm đổ một lần nước hỗn hợp EM) => chôn lấp ủ rác thải => tạo thành phân hữu cơ => bón cho cây trồng => tạo ra rác hữu cơ (quy trình khép kín).

    Theo ông Lê Khắc Quảng – Giám đốc Trung tâm Phát triển công nghệ Việt-Nhật thì việc sử dụng chế phẩm EM Bokashi khá đơn giản, nhưng hiệu quả cao, có khả năng nhân rộng. Không chỉ giảm thiểu ô nhiễm môi trường, phân loại rác thải, khủ mùi hôi của rác thải mà công nghệ này còn góp phần giảm tải lượng rác thải, phân hoá rác thải thành phân hữu cơ để phát triển cây trồng sạch. Mô hình rất phù hợp với những khu, chăn nuôi gia súc, gia cầm, hoặc trồng rau, trồng cây ăn quả… ở trang trại tập trung.

    “Không chỉ dùng xử lý rác thải, chế phẩm EM còn được một số quốc gia ứng dụng trong việc khử khuẩn nguồn nước thải, thanh lọc ao hồ, sông suối bị nhiễm bẩn sau mưa bão, lũ lụt. Việc hoà chế phẩm EM trong nước và phun dưới dạng sương trong các khu chuồng trại còn góp phần khử khuẩn, ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh trong chăn nuôi”- ông Quảng cho biết.


    Nông thôn mới – RSS Feed

    Read More

    Triển khai cánh đồng mẫu lớn, cánh đồng liên kết: Nông dân mê, doanh nghiệp ngại

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments mẫu, Đan, đồng
    Nông dân thấy rõ lợi ích

    Ông Nguyễn Ngọc Hải có 2ha trồng lúa cao sản ở huyện Ô Môn, TP.Cần Thơ cho rằng, cánh đồng liên kết là một mô hình ưu việt vì chỉ có liên kết tập thể, liên kết ngang với nông dân thì DN mới thu mua dễ dàng những chủng loại gạo cần cho xuất khẩu với số lượng lớn, chất lượng đồng đều.

    Việc tham gia cánh đồng liên kết, cánh đồng mẫu lớn với nông dân cũng giúp DN dễ dàng hơn trong việc đầu tư cho một giống lúa nào đó mà thế giới ưa chuộng để xây dựng thương hiệu lúa gạo. “Mua qua thương lái thì họ thường pha trộn nên chất lượng gạo không đồng đều, DN không thể truy xuất nguồn gốc, khó cho việc đăng ký thương hiệu” – ông Hải phân tích.

    Về phía nông dân cũng có được nhiều lợi ích khi tham gia cánh đồng lớn, cánh đồng liên kết. Chị Lê Thị Thu Hằng ở Châu Phú, Đồng Tháp cho biết, chi phí sản xuất khi tham gia cánh đồng lớn hay cánh đồng liên kết giảm hơn từ 2,5 – 3 triệu đồng/ha so với việc gia đình tự làm. Do nông dân được DN đầu tư giống lúa tốt, năng suất cao; cung cấp phân bón, thuốc bảo vệ thực vật với giá gốc; việc sử dụng cơ giới hóa trong cải tạo đất hay thu hoạch cũng thuận lợi và giá rẻ hơn, giảm được thất thoát sau thu hoạch. Chưa kể là giá lúa DN thu mua luôn bằng hoặc cao hơn thị trường từ 100 – 250 đồng/kg. Chính vì thế nông dân khá hăng hái khi tham gia mô hình này.

    Nông dân hăng hái tham gia cánh đồng lớn trong khi doanh nghiệp thì ngán ngại.

    Nông dân hăng hái tham gia cánh đồng lớn trong khi doanh nghiệp thì ngán ngại.

    “Thú thật thời gian gần đây xuất khẩu khó khăn, giá cả bấp bênh, nông dân chúng tôi cũng chỉ mong có được DN bao tiêu để có đầu ra ổn định. Chúng tôi sẵn sàng chia sẻ khó khăn với DN, chỉ cần lãi 10 – 15% cũng được chứ không cần 30% như Chính phủ đặt ra” – ông Huỳnh Văn Sơn, nông dân trồng lúa ở Thạnh Hóa, Long An khẳng định.

    Doanh nghiệp lo

    Cùng với động thái từ Bộ Công Thương, Bộ trưởng Bộ NNPTNT Cao Đức Phát cũng vừa ký ban hành Chỉ thị 1965/CT-BNN-TT về việc đẩy mạnh liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản theo mô hình “Cánh đồng mẫu lớn”. Bộ NNPTNT cho rằng trong tình hình xuất khẩu khó khăn như hiện nay, việc đẩy mạnh liên kết trong sản xuất và tiêu thụ giữa nông dân và DN trong cây lúa hay những cây, con khác sẽ giúp những nông hộ nhỏ lẻ, địa phương và DN nhận thức được sức mạnh tập thể, ý thức được trách nhiệm đối với chất lượng sản phẩm chung của cộng đồng. Từ đó góp phần giữ gìn uy tín thương hiệu và không ngừng cải tiến trong sản xuất để giảm giá thành, nâng cao giá trị sản phẩm nhằm đạt hiệu quả cao trong sản xuất để có thể cạnh tranh với các nước, vươn ra thị trường thế giới.

    Bộ NNPTNT đang soạn dự thảo đưa ra mức hỗ trợ cho DN xây dựng đồng ruộng 15 triệu đồng/ha, hỗ trợ xây dựng đường giao thông, nguồn nước tưới hoặc hỗ trợ 50% chi phí đầu tư xây dựng…

    Trong khi đó, phía các DN xuất khẩu gạo lại thấy mình như đang bị “ép” để làm. Bởi trong những lần trả lời báo chí trước đây, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) Trương Thanh Phong từng thẳng thắn đặt câu hỏi ngược lại là tại sao DN xuất khẩu gạo phải lo vùng nguyên liệu? Các DN đi bán thuốc trừ sâu, phân bón khi có vùng nguyên liệu thì người ta có lợi quá vì họ bán thuốc, bán phân còn DN xuất khẩu gạo lấy gì mà bán? Trong Nghị định 109 về điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo cũng không nêu yêu cầu này. Có thể yêu cầu các DN xuất khẩu gạo đặt hàng và ký hợp đồng mua gạo ở các hợp tác xã hoặc các tổ chức nào đó. Và khi DN đặt hàng mà không mua thì cần phải xử lý theo đúng hợp đồng.

    Ông Lâm Anh Tuấn – Giám đốc Công ty Thịnh Phát (Bến Tre) cũng lo âu không kém trước yêu cầu này của Bộ Công Thương và Bộ NNPTNT: “Chúng tôi hiện lo kiếm tiền để mua lúa gạo xuất khẩu đã khốn khổ rồi, lấy tiền đâu mua giống, thuê đất, kỹ sư,… đến chăm sóc lúa. Đây lại không phải là chuyên môn của chúng tôi. Không thể bắt chúng tôi làm ngay được mà phải có lộ trình thực hiện”.

    Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh khẳng định: “Chúng tôi đã xác định đây là nhiệm vụ nặng nề nên cần có lộ trình cụ thể để DN thực hiện. Bên cạnh đó cũng sẽ có những ưu tiên hỗ trợ của Nhà nước cho các DN xây dựng vùng nguyên liệu hoặc thực hiện hợp tác, đặt hàng, liên kết với hộ nông dân trồng lúa, chứ không phải chỉ có chế tài”.


    Nông thôn mới – RSS Feed

    Read More
    09 Th9

    TS. Nguyễn Thế Kỷ: Phải giúp người nông dân làm giàu trên mảnh ruộng của mình

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments làm, Đan
    Đây là khẳng định của TS Nguyễn Thế Kỷ – Phó trưởng Ban Tuyên giáo T.Ư trong cuộc trao đổi với PV Dân Việt về tư tưởng của Hồ Chí Minh với vấn đề nông nghiệp – nông thôn và nông dân.

    Vị lãnh tụ gần gũi với nông dân

    Thưa ông, Báo điện tử Dân Việt (báo NTNN) vừa khởi đăng loạt bài , trong đó có đề cập tới một phong trào nổi tiếng của ngành nông nghiệp thập niên 60 của thế kỷ trước là “Gió Đại phong”. Khi đó, Bác Hồ đã hết sức ủng hộ, Bác viết bài ca ngợi mô hình rất đẹp này trên Báo Nhân Dân. Ông đánh giá thế nào về ý nghĩa của loạt bài này cũng như những phong trào thi đua từng có tác dụng rất tích cực trong quá khứ?

    Phó trưởng Ban Tuyên giáo TƯ, TS Nguyễn Thế Kỷ trả lời PV báo Dân Việt. (ảnh: Xuân Lực)

    – Theo tôi, loạt bài của Báo NTNN tôi cho là có ý nghĩa nhiều mặt trong thời điểm Đảng, Nhà nước ta đang giành rất nhiều sự quan tâm cho vấn đề tam nông. Loạt bài viết gợi lại cho bạn đọc suy nghĩ về những phong trào, những việc làm bổ ích, thiết thực của một thời kỳ lịch sử hào hùng của dân tộc. Loạt bài này sẽ gợi lên rất nhiều suy nghĩ cho những người làm công tác xây dựng, hoạch định chính sách, pháp luật về nông nghiệp, nông dân, nông thôn của ta hiện nay.

    Nói rộng hơn, tư tưởng của Hồ Chí Minh về nông nghiệp, nông dân, nông thôn hết sức rõ ràng, hết sức đúng đắn: Đó là làm sao để người nông dân đã có ruộng cày rồi thì phải sống được và làm giàu trên mảnh ruộng của mình. Không chỉ có phong trào “Gió Đại Phong”, sinh thời, Bác đã cùng với Đảng, Nhà nước ta đề ra, khuyến khích, cổ vũ nhiều phong trào thi đua yêu nước nhằm phát triển nền nông – công nghiệp còn non trẻ của nước nhà như phong trào “Sóng Duyên Hải”, “Cờ Ba Nhất”…

    “Một số nước cũng có những lãnh tụ có hình dáng của nông dân, nguồn gốc từ nông dân, nông thôn nhưng lại không thu phục được đội ngũ trí thức. Trong khi đó, khi Bác Hồ kêu gọi toàn quốc kháng chiến, biết bao nhiêu trí thức Việt Nam ở nước ngoài đã từ bỏ cuộc sống đầy đủ, yên ổn, vinh hoa để về cùng Bác đồng cam cộng khổ kháng chiến. Dường như với họ, có một điều gì đó cao hơn lý tưởng, có thể như một đức tin đối với Hồ Chí Minh. Hoặc có thể coi đó là sức thu hút, sự cảm hóa kỳ diệu của Bác”.

    TS Nguyễn Thế Kỷ – Phó trưởng Ban Tuyên giáo T.Ư

    Vào thời điểm đó, những phong trào như vậy đã giúp chúng ta gặt hái được nhiều thành tựu vượt bậc trong công cuộc xây dựng miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn miền Nam.

    Trước đó, thời chúng ta mới giành được chính quyền, đất nước đang trong muôn vàn khó khăn, bộn bề, “ngàn cân treo sợi tóc”, Bác cũng đã phát động, lãnh đạo thành công các phong trào thi đua yêu nước như “Diệt giặc đói, giặt dốt”, “Tuần Lễ Vàng”, “Hũ gạo kháng chiến”, “Áo ấm mùa đông chiến sỹ”…

    Trong những phong trào, những việc làm như vậy, Hồ Chí Minh không chỉ đứng ra vận động mà chính Người cũng làm gương một cách nghiêm túc để mọi người làm theo. Nhờ đó, các phong trào lan tỏa, nhân lên tầm vóc trong xã hội.

    Một đất nước có thể kêu gọi từ một người nông dân không biết chữ, đói nghèo hăm hở vào cuộc kháng chiến; những nhà tư sản, giới trung lưu dốc hết cả tài sản của mình cho nền độc lập thì đất nước đó có sức mạnh quá lớn lao, không kẻ thù nào có thể khuất phục được.

    Vậy ông suy nghĩ gì về những phong trào hiện nay trong phát triển nông thôn, nông nghiệp. Vẫn biết là lịch sử mỗi giai đoạn một khác, nhưng theo ông, làm thế nào để có thêm những “Gió Đại Phong”, “Sóng Duyên Hải”…mới ?

    -Theo tôi, khi nói tới các phong trào thi đua yêu nước hiện nay, tuy giá trị của nó vẫn còn gần như nguyên vẹn nhưng động lực, niềm tin thì giảm xuống so với thời trước. Sau này, mình có một số phong trào như xây dựng “Cánh đồng mẫu lớn”, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cây con, sản phẩm, hay như chương trình “Xây dựng nông thôn mới”…

    Đây là những phong trào tốt, nhưng vẫn cần phải vừa làm vừa điều chỉnh, bổ sung. Như chương trình “Xây dựng nông thôn mới” chẳng hạn, hình như một số tiêu chí không tính tới yếu tố văn hóa làng xã. Không phải chỗ nào cũng đường nhựa, đường bê tông là đẹp, không phải ở đâu cũng nhà mái bằng, cũng nhà “ống”… là “nông thôn mới”. Phải xem nó có phù hợp với truyền thống, bản sắc văn hóa của nông thôn Việt Nam, dân tộc Việt Nam hay không.

    Còn để phong trào có được sự ảnh hưởng, lan tỏa rộng lớn, rất cần tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể; rất cần có một người đi đầu, làm gương để mọi người noi theo, như cách mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm. Có một người lãnh đạo gần gũi với nhân dân, hiểu dân và sẵn sàng làm gương cho dân noi theo thì chắc chắn phong trào nào phát động cũng sẽ được người dân hưởng ứng nhiệt tình.

    Là người bỏ nhiều tâm huyết và công sức nghiên cứu về Hồ Chủ tịch, ông đánh giá thế nào về sự quan tâm của Hồ Chủ tịch đối với vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam?

    – Ngay từ khi từ mới bước chân vào con đường cách mạng, ra đi tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cao nông dân với vai trò lực lượng quần chúng quan trọng của cách mạng. Cần nhớ rằng, trong cách mạng Việt Nam, lực lượng quần chúng đại đa số là nông dân. Ngay cả giai cấp công nhân và phần lớn lực lượng trí thức thì đa phần trong số họ đều xuất phát từ giai cấp nông dân.

    Chính vì thế, cuộc cách mạng của Việt Nam ngay từ đầu đã xác định là cuộc cách mạng “tư sản dân quyền” và “thổ địa”, giành độc lập dân tộc cũng có nghĩa lấy đất từ tay giai cấp bóc lột chia cho dân cày. Đây chính là mục tiêu, là động lực để tập hợp lực lượng. Trong lịch sử, nông dân Việt Nam cũng có nét chung với nông dân nhiều nước, nhưng có một đặc trưng là bất kỳ người nông dân nào cũng mang trong mình một lòng yêu nước nồng nàn, gắn bó máu thịt với làng quê, mảnh ruộng.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo nguồn gốc nông dân, ở một vùng làng quê thuần Việt, thuần nông. Tư tưởng của Bác, của Đảng ta đề ra từ 1930, vấn đề về nông dân, ruộng đất luôn được xác định rõ ràng và nhất quán. Trong suốt cả sự nghiệp của Bác Hồ, những người đi theo Bác phần lớn cũng là những nông dân hay trí thức có nguồn gốc từ đồng quê, thôn dã mà ra. Khi làm cách mạng, họ giải phóng dân tộc, đồng thời họ giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

    Về mối quan tâm của Bác với nông nghiệp, nông dân, nông thôn, đã có rất, rất nhiều phim, ảnh, bài báo, tư liệu, tác phẩm văn học, nghệ thuật ghi lại tư tưởng, tình cảm, phong cách của Người: Người đến tận từng thửa ruộng gặp nông dân; Người đạp guồng nước hoặc kéo dây gàu múc mước chống hạn; Người nâng niu củ khoai, củ sắn của người dân tặng Người; trong bữa ăn đạm bạc hàng ngày của Người, vẫn không thể thiếu tương, cà, rau, củ.

    “Nhớ ông Cụ mắt sáng ngời/Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường” – thơ Tố Hữu). Phải nói rằng, ít có người lãnh tụ nào lại có hình ảnh giản dị, gần gũi, thân thương, tin cậy với người nông dân, với nhân dân của mình như Hồ Chí Minh.

    Không chỉ với tầng lớp trí thức, ngay cả với những tù binh của Pháp, của Mỹ khi bị bắt và được gặp Bác, nhìn cách ứng xử của Bác đều cảm thấy, như nhà báo Xô viết Ôxip Manđenstan đã từng viết rằng: “Từ Nguyễn Ái Quốc toả ra một thứ văn hoá, không phải văn hoá châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hoá của tương lai” (theo Báo “Ngọn lửa nhỏ” 1923)”.

    Hoàn thiện sớm chính sách về đất đai

    Vừa qua, báo NTNN cũng như một số báo có nói đến thực trạng tại nhiều địa phương, người nông dân bỏ ruộng vì trồng lúa quanh năm chỉ đủ ăn. Với vai trò là người làm việc ở cơ quan định hướng tuyên truyền của Đảng, theo ông, báo chí cần nhìn nhận và đánh giá vấn đề này như thế nào?

    – Đây là một vấn đề lớn. Người nông dân đã hết sức trăn trở trên mảnh ruộng của mình. Còn khi họ bỏ ruộng, đây là vấn đề cần phải suy nghĩ nghiêm túc. Tại sao họ lại trả ruộng? Vì họ làm ra hạt lúa, củ khoai trên mảnh ruộng đó, với các chi phí đầu vào như hiện nay, sau khi khấu hao thì không còn được bao nhiêu do đầu ra quá thấp. Một người nông dân chân chính, có sức vóc, trí tuệ, làm ăn chăm chỉ quanh năm, thậm chí còn thua một anh xe ôm thì rõ ràng không chấp nhận được.

    Như vậy vấn đề cần đặt ra là: Chính sách của chúng ta với cây lúa nói riêng, với tam nông nói chung phải đổi mới thế nào để người nông dân bớt khổ? Những cái đó phải được đặt ra sớm và giải quyết rốt ráo. Nhà nước cũng đã đặt ra mục tiêu làm sao để người nông dân phải được hưởng lãi ít nhất là 30%. Kể cả đạt được mức lãi này thì vẫn là thấp.

    Do vậy, chúng ta phải tính, trong 3,8 triệu ha đất lúa, cần có sự phân bố, cơ cấu hợp lý, đất nào trồng lúa để đảm bảo an ninh lương thực, đất nào trồng hoa màu, cây công nghiệp, nuôi trồng thuỷu sản cho năng suất, giá trị cao… Ngoài ra, phải đảm bảo yếu tố bền vững bằng việc có quy hoạch vùng rõ ràng, có phân công sản xuất theo lộ trình nhất định, phải tìm đầu ra cho nông nghiệp ở cả trong và ngoài nước…

    Thưa ông, nước ta là một nước thuần nông với hơn 70% dân số là nông dân. Nhưng dường như vị thế của người nông dân chưa được nhìn nhận đúng, lĩnh vực tinh thần của nông dân chưa được quan tâm nhiều?

    – Năm nay, chúng ta tổng kết 15 năm Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Đây là một nghị quyết về văn hóa rất quan trọng, rất có tầm, có giá trị bền vững lâu dài. Nhìn xa hơn một chút, năm 1943, chúng ta có Đề cương văn hóa VN, trong đó có nêu một tư tưởng chỉ đạo là: Đảm bảo tính dân tộc, khoa học và đại chúng.

    Trong văn hóa, đương nhiên là cả chính trị và kinh tế, vai trò của người nông dân và truyền thống văn hóa lúa nước, văn hóa đê điều, văn hóa làng xã… luôn cần được nhấn mạnh, đề cao. 15 năm vừa rồi, chúng ta đã thực hiện Nghị quyết Trung ương 5, xây dựng, tăng cường thiết chế văn hóa ở nông thôn.

    Nhưng bây giờ, nói đến việc xây dựng nông thôn, từ quy mô cấp tỉnh, huyện cho đến xã, thôn, điều cần làm trước tiên luôn là phải làm thật tốt quy hoạch tổng thể kinh tế – xã hội của khu vực đó. Nếu không, nông thôn sẽ phát triển tự phát, thậm chí tùy tiện và sẽ không thể định hình một cách khoa học và tốt đẹp trong tương lai.

    Trong quá khứ, khi thực hiện cải cách ruộng đất ở thế kỷ trước, do nóng vội, duy ý chí, cộng với những tác động, thậm chí là sức ép từ bên ngoài, chúng ta đã mắc phải những sai lầm nghiêm trọng. Theo ông, trong quá trình xây dựng, đổi mới tam nông hiện nay, có những hạn chế hay thiếu sót nào mà chúng ta cần phải điều chỉnh, sửa chữa để bước tiếp?

    – Không ai dám khẳng định trong quá trình phát triển sẽ không mắc phải những sai sót, sai lầm. Vấn đề là chúng ta có dám nhìn thẳng vào những sai lầm, khuyết điểm để sửa chữa hay không mà thôi. Khi Đảng ta có những sai lầm trong cải cách ruộng đất, chính Bác đứng ra nhận lỗi, một số đồng chí có trọng trách trong Đảng cũng phải chuyển công tác.

    Còn hiện nay, bên cạnh những thành tựu, chúng ta cũng đã gặp phải những sai sót, yếu kém. Điều mà tôi cũng như nhiều người khác canh cánh, là luật pháp, chính sách về đất đai, trong đó có việc đền bù, thu hồi đất đai của nông dân ở một số nơi khá tùy tiện. Nếu thu hồi đất cho những công trình phục vụ lợi ích xã hội, công cộng chính đáng thì người dân sẵn sàng, nhưng với những công trình phục vụ mục đích thuần túy thị trường thì người dân cần được tham gia công việc này từ đầu đến cuối, kể cả giá cả, tái định cư.

    Bác Hồ từng nói “dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Người cũng căn dặn “không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng”. Muốn vậy, chúng ta phải làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nông dân. Tất nhiên, phải xây dựng và thực thi pháp luật, chính sách phải đúng, phải nghiêm, trong đó, nhân dân là chủ thể.

    Bên cạnh đó, tuyệt đối không để các nhóm lợi ích xen vào thao túng chính sách, pháp luật. Hãy nghĩ rằng, đau đáu rằng, ở một nơi nào đó, khi mỗi một khu đô thị mọc lên, nếu đi theo là biết bao giọt nước mắt, mô hôi mặn chát, cay đắng, uất ức của người nông dân đổ ra. Dứt khoát không được như thế. Thậm chí, tuyệt đối không được như thế.

    Xin trân trọng cám ơn ông !


    Nông thôn mới – RSS Feed

    Read More

    Nông dân Vĩnh Phúc “mê” Hoa Khôi 4

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments Vĩnh, Đan, “mê”

    Thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, chất lượng gạo thơm ngon, khả năng kháng sâu bệnh và thích ứng với điều kiện thời tiết bất lợi… là những ưu điểm nổi trội của lúa thuần Hoa Khôi 4.

    Năng suất cao

    Theo chân đoàn đại biểu về tham dự hội nghị thăm quan đầu bờ mô hình trình diễn giống lúa thuần Hoa Khôi 4 vụ mùa 2013 tại các cánh đồng thôn Vĩnh Đồng, Thanh Lanh (xã Trung Mỹ, huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc) vào chiều 6/9, chúng tôi đã ghi nhận được những tín hiệu rất đáng mừng về triển vọng phát triển của giống lúa này.

    Ông Nguyễn Văn Dũng, Trạm trưởng Trạm Khuyến nông huyện Bình Xuyên cho biết: Nhằm giúp nông dân lựa chọn được những giống lúa mới có năng suất, chất lượng, khả năng thích ứng với điều kiện thời tiết khí hậu và thổ nhưỡng của địa phương, góp phần xây dựng cơ cấu giống cây trồng của huyện phong phú, đa dạng và phát triển bền vững, Trạm đã phối hợp với Cty CP Nông nghiệp quốc tế An Việt xây dựng mô hình trình diễn giống lúa thuần chất lượng Hoa Khôi 4 với diện tích 20 ha.


    Nông dân xã Trung Mỹ phấn khởi vì vụ mùa Hoa Khôi 4 được mùa

    Mặc dù thời tiết có nhiều diễn biến phức tạp. Sau khi gieo cấy, thời tiết khá thuận lợi cho lúa sinh trưởng phát triển. Nhưng ở thời kỳ kết thúc đẻ nhánh đến làm đòng bị ảnh hưởng trực tiếp của 2 cơn bão số 5 và 6 trong tháng 7 và tháng 8, kèm theo mưa lớn kéo dài nhiều ngày, song khá bất ngờ là năng suất lúa của mô hình gần như không bị ảnh hưởng nhiều.

    Để tìm ra những đặc tính ưu việt của lúa thuần Hoa Khôi 4, Trạm KN Bình Xuyên đã chọn giống Khang dân 18 (một giống lúa được trồng phổ biến tại Vĩnh Phúc) làm đối chứng. Với cùng một điều kiện canh tác như nhau, nhưng Hoa Khôi 4 ở vụ mùa có TGST khoảng 92 ngày, ngắn hơn Khang dân 18 từ 5 – 7 ngày. “Đây là đặc tính quý của giống, phù hợp với những chân đất gieo trồng 3 vụ/năm của huyện”, ông Dũng khẳng định.

    Hoa Khôi 4 và Khang dân 18 có nhiều đặc điểm gần tương đồng như chiều cao cây gần tương đương nhau (khoảng 110 cm); đạt từ 245 – 247 bông/m2; mỗi bông có khoảng 160 – 162 hạt. Tuy nhiên, tỷ lệ hạt trắc của Hoa Khôi 4 vượt trội hoàn toàn so với giống đối chứng với 83,13% (Khang dân 18 chỉ 75,3%). Do đó, năng suất vẫn đạt khoảng 210 kg/sào (cao hơn giống đối chứng khoảng 30 kg).

    Lãi cao hơn Khang dân khoảng 11 triệu đ/ha

    Trên những thửa ruộng thực nghiệm giống lúa thuần Hoa Khôi 4 sai trĩu bông, vàng ruộm hứa hẹn vụ mùa bội thu, nhiều nông dân nở nụ cười phấn khởi, tự hào khi đặt niềm tin vào đúng đơn vị cung ứng giống.

    Bà Nguyễn Thị Lộc, một hộ dân ở xã Trung Mỹ trực tiếp tham gia trình diễn giống Hoa Khôi 4, chia sẻ: Vụ mùa năm nay gia đình tôi tham gia 5 sào lúa giống của Cty An Việt. Tôi nhận thấy giống Hoa Khôi 4 có TGST ngắn ngày nên cấy được 3 vụ/năm. Cây cứng, khả năng chống chịu các loại sâu bệnh như khô vằn, vàng lá, đạo ôn, rầy nâu tốt.

    Đặc biệt là nhẹ phân, dễ chăm sóc, thích hợp với việc áp dụng phương pháp gieo thẳng bằng giàn kéo tay. Năng suất cao so với các giống khác, hình dáng gạo đẹp, cơm dẻo, mềm, mùi thơm nhẹ. Khả năng đẻ nhánh gọn, trỗ tập trung nên chất lượng hạt rất đồng đều, không có hiện tượng hạt già, hạt non.

    Góp lời trong buổi hội nghị, ông Nguyễn Văn Toàn, Phó Chủ tịch UBND xã Trung Mỹ cho biết: Trung Mỹ là một xã miền núi của huyện Bình Xuyên với gần 7.000 nhân khẩu, 8 dân tộc anh em sinh sống, trình độ dân trí chưa cao. Thu nhập của chủ yếu dựa vào SXNN. Với diện tích canh tác 416,9 ha, đa phần là ruộng bậc thang manh mún, đất pha cát bạc màu, năng suất lúa còn thấp nên đời sống còn nhiều khó khăn.

    Vụ mùa 2013, mặc dù chưa thu hoạch, nhưng theo đánh giá của chúng tôi, giống lúa Hoa Khôi 4 được trình diễn tại địa phương sẽ cho năng suất cao so với các giống lúa khác đang gieo trồng. Trong thời gian tới, chính quyền sẽ chỉ đạo bà con tiếp tục quan tâm đầu tư và nhân rộng diện tích gieo trồng giống lúa này.

    Theo đánh giá của Trạm Khuyến nông huyện Bình Xuyên, sản phẩm của giống lúa Hoa Khôi 4 có chất lượng gạo cao, gạo trắng trong, cơm dẻo không ướt, có vị đậm và hương thơm nhẹ, rất phù hợp với thị hiếu ăn uống của người Việt, do đó giá bán trên thị trường khoảng 7.500 đ/kg lúa, cao hơn Khang dân 18 là 1.000 đ/kg. Nếu hạch toán thu chi, Hoa Khôi 4 có giá trị tiền lãi cao hơn lúa Khang dân 18 là 400.000 đ/sào, tương đương khoảng 11 triệu đ/ha.

    Khả năng thích ứng rộng

    Ông Vũ Khắc Minh, Giám đốc Trung tâm KN-KN tỉnh Vĩnh Phúc nói: Với sự thành công của mô hình trình diễn giống Hoa Khôi 4 tại xã Trung Mỹ, chúng tôi cho rằng đây là giống lúa đạt được cả 2 yếu tố năng suất và chất lượng. TGST ngắn, phù hợp với cơ cấu 3 vụ của tỉnh.

    Khi đi thăm nhiều cánh đồng của các địa phương, chúng tôi thấy lúa mùa năm nay có tỷ lệ lép hạt và nhiễm sâu bệnh hại rất lớn do thời tiết trong hơn 1 tháng qua diễn biến rất phức tạp. Nhưng, đối với giống Hoa Khôi 4, tỷ lệ hạt trắc rất cao, khả năng kháng sâu bệnh tốt. Đó là một niềm vui lớn cho bà con nông dân.

    “Hoa Khôi 4 là giống lúa rất triển vọng để phát triển tại Vĩnh Phúc. Bởi lẽ, cách đây 5 năm trước, chúng tôi đã cùng Cty An Việt làm thử nghiệm mô hình trình diễn ở xã Tân Phong, huyện Bình Xuyên. Và cho đến hôm nay, chúng tôi cũng nhận được thông tin là ở Yên Lạc, Vĩnh Tường, Tam Dương và một số huyện khác đang trồng giống lúa này và đánh giá triển vọng rất cao”, ông Minh cho biết.


    BÁO NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

    Read More

    Mở rộng mô hình liên kết “Nông dân – Doanh nghiệp” 

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments Đan

    Mở rộng mô hình liên kết “Nông dân – Doanh nghiệp”

    SGTT.VN – Dù chưa có nhiều doanh nghiệp kinh doanh lúa gạo tham gia, nhưng theo dự kiến của Cục Trồng trọt, Bộ NN&PTNT , năm 2013 ở ĐBSCL quy mô cánh đồng mẫu lớn sẽ lên đến 100.000 – 200.000 ha, trung bình mỗi tỉnh có 10.000 – 20.000 ha.

    Bộ trưởng bộ NN&PTNT Cao Đức Phát khẳng định tại hội thảo “Mô hình tổ chức sản xuất, quản lý mới trong nông nghiệp, nông thôn” do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội phối hợp với bộ NN&PTNT, hội Nông dân Việt Nam tổ chức tại Cần Thơ – ngày 5.9: “Tổ chức lại sản xuất nông nghiệp là vấn đề quan trọng và phải làm trong giai đoạn mới vì chúng ta không thể tiến lên mạnh mẽ nếu không khắc phục những điểm hạn chế của việc sản xuất nhỏ lẻ, tự phát; phải liên kết sản xuất lớn mới có thể tạo tính bền vững và nâng cao được vị thế ngành nông nghiệp nước nhà.”

    Cánh đồng mẫu lớn liên kết với công ty bảo vệ thực vật An Giang. Ảnh: Lê Hoàng Yến

    Ngày thứ hai tham dự hội thảo, GS.TS Võ Tòng Xuân, Hiệu trưởng ĐH Tân Tạo kỳ vọng sau hội thảo, mô hình tổ chức sản xuất, quản lý trong nông nghiệp, nông thôn phải bắt tay vào làm để biết được hiệu quả tới đâu, cần làm gì để khắc phục những yếu kém và hoàn thiện cơ chế chính sách đã đặt ra.

    Nếu diện tích lúa đăng ký sản xuất theo mô hình CĐML đầu năm năm 2011 chỉ có khoảng 7.200 ha, đến vụ đông xuân năm 2012 diện tích này nâng lên 20.000 ha và tiếp tục phát triển triển ở nhiều loại cây trồng vật nuôi khác nhau.

    Từ góc nhìn của người đang đầu tư mạnh cho cánh đồng mẫu lớn, ông Huỳnh Văn Thòn, Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty CP Bảo vệ thực vật An Giang nói: “Đã trả giá quá đủ cho chuyện làm ăn riêng lẻ, sản xuất nhỏ, manh mún, bây giờ chỉ có quy mô lớn mới hiện đại hóa được và phải liên kết những hộ nông dân lại với nhau, hợp tác với doanh nghiệp cùng sản xuất mới có thể mang lại hiệu quả cao hơn.”

    Ông Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch Hội đồng quản trị Saigon Co.op, từ góc nhìn của nhà phân phối, cho biết: người tiêu dùng mua ít, ăn ít nhưng phải có chất lượng. Vệ sinh an toàn thực phẩm, truy nguyên nguồn gốc của sản phẩm… là yếu tố hàng đầu chứ không phải là giá cả như trước đây. Họ sẵn sàng trả giá cao cho những sản phẩm có địa chỉ làm ra sản phẩm, nguồn nguyên liệu sản phẩm…

    Việc tổ chức lại sản xuất theo mối liên kết, hợp tác là tất yếu, bản thân Saigon Co.op cũng đã hình thành những mối liên kết trực tiếp với người sản xuất chứ không muốn qua nhiều khâu trung gian vì khó kiểm soát được chất lượng và quy trình sản xuất.

    Nhu cầu liên kết của Saigon Co-op không chỉ với nông dân mà liên kết với những doanh nghiệp cung ứng đầu vào và doanh nghiệp xử lý đầu ra của sản phẩm.

    “Mở rộng những mô hình liên kết, liên doanh, hợp tác là điều kiện khơi thông dòng chảy tín dụng”, ông Nguyễn Viết Mạnh, Vụ trưởng Vụ tín dụng Ngân hàng Nhà nước nói.

    Ông Nguyễn Đăng Khoa, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT cho rằng, việc liên kết phải thông qua những mô hình hợp tác xã, tổ hợp tác, liên kết nông dân – doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp đóng vai trò nòng cốt dù số lượng doanh nghiệp đầu tư, quan tâm đến lĩnh vực nông nghiệp không nhiều.

    Do chính sách đầu tư cho doanh nghiệp còn hạn chế nên doanh nghiệp chưa mặn mà, công tác tổ chức, chỉ đạo chưa thật sự quyết liệt. Ông Khoa đề xuất: “Chính phủ nên có chính sách thuế ưu đãi, được giảm thuế hoặc hỗ trợ 100% chi phí đầu tư thuê mặt bằng , hỗ trợ chi phí đào tạo nhân lực cho ngành nông nghiệp…”

    Riêng ông Hòa để nghị: “Nên chăng Chính phủ xem xét miễn giảm học phí cho những đối tượng sinh viên theo học các ngành phát triển nông nghiệp, nông thôn như đã làm đối với khối ngành sư phạm”.

    NGỌC BÍCH


    Kinh tế – BÁO SÀI GÒN TIẾP THỊ

    Read More

    Diễn đàn Khuyến nông@Nông nghiệp lần thứ 18-2013 chuyên đề "Một số giải pháp phát triển sắn bền vững”

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments Vùng, Đan, đề
    (Mard-27/8/2013): Thực hiện kế hoạch thông tin tuyên truyền khuyến nông năm 2013, ngày 26 tháng 8 năm 2013 tại Tây Ninh, được sự chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và PTNT, Trung tâm Khuyến nông Quốc Gia phối hợp với Sở Nông nghiệp và NPTNT Tây Ninh tổ chức Diễn đàn Khuyến nông@Nông nghiệp lần thứ 18 – 2013 với chủ đề ”Một số giải pháp phát triển sắn bền vững” nhằm trao đổi kinh nghiệm, đề xuất các giải pháp phát triển sản xuất sắn bền vững cho các tỉnh Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.

    Tham dự diễn đàn có lãnh đạo một số Cục, Vụ, Viện, Trung tâm liên quan thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT, lãnh đạo Trung tâm Khuyến nông quốc gia, đại diện lãnh đạo các Sở Nông nghiệp và NPTNT các tỉnh Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Ngoài ra, còn có các chuyên gia, các nhà khoa học, các doanh nghiệp cung cấp giống, vật tư, doanh nghiệp thu mua, chế biến sắn và đặc biệt là sự tham gia của bà con nông dân tại các tỉnh Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.

    Sắn là loại cây được trồng rộng rãi tại Việt Nam do nước ta có điều kiện tự nhiên, xã hội thích hợp cho cây sắn phát triển, cây sắn có thể sinh trưởng được trên hầu hết các loại đất (trừ đất úng nước), dễ tính, không đòi hỏi thâm canh cao, đang trở thành cây góp phần quan trọng vào công cuộc xóa đói giảm nghèo cho đồng bào vùng sâu, vùng xa. Sắn được xếp hàng thứ ba sau lúa và ngô, cây sắn tạo ra lượng tinh bột cao nhất trong các cây lương thực, ngoài việc được sử dụng làm lương thực cho con người, làm thức ăn gia súc, sắn là cây công nghiệp xuất khẩu có giá trị kinh tế cao. Tinh bột sắn được dùng trong công nghiệp, là nguyên liệu quan trọng để sản xuất ehtanol chế biến nhiên liệu sinh học được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 177/2007/QĐ – TT ngày 20/11/2007 về ”Đề án phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025”. Theo quyết định số 124/QĐ-TTg ngày 02/2/2012 của Thủ Tướng Chính Phủ về phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển nghành nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030”, Bộ Nông Nghiệp và PTNT có Quyết định số 824/QĐ-BNN-TT ngày 16/4/2012 về phê duyệt “Đề án phát triển ngành trồng trọt đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, theo đó cây sắn sẽ có diện tích là 500 ngàn ha vào năm 2020 và 450 ngàn ha vào năm 2030, thâm canh để đạt sản lượng 11 triệu tấn làm thức ăn chăn nuôi và nhiên liệu sinh học, sử dụng đất có độ dốc dưới 15 độ, tầng dày trên 35 cm chủ yếu ở Trung du miền núi phía Bắc, duyên hải Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ.
    Những năm gần đây, nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, trong đó giống mới đóng vai trò rất quan trọng đã nâng năng suất sắn lên rất nhanh từ 83,3 tạ củ tươi/ha năm lên 176,93 tạ củ tươi/ha năm 2012, đưa sản lượng sắn từ 2,28 triệu tấn năm 1995 lên 9,75 triệu tấn năm 2012. Nhu cầu về sắn tăng cao đã đẩy giá sắn lên cao là nguyên nhân chính làm diện tích trồng sắn tăng nhanh trong những năm vừa qua. Tuy nhiên, việc tăng nhanh diện tích trồng sắn đã phã vỡ quy hoạch, kế hoạch dẫn đến phá rừng, đất bị sói mòn, rửa trôi nghiêm trọng. Nông dân chủ yếu canh tác theo phương thức quảng canh, ít đầu tư thâm canh nên đất trồng sắn có xu hướng thoái hóa, bạc mầu khó phục hồi, sâu bệnh gây hại ngày càng nhiều, tình trạng nước thải gây ô nhiễm môi trường của các nhà máy chế biến là những thách thức không nhỏ cần có hướng giải quyết triệt để trong thời gian tới  Diễn đàn đã lắng nghe báo cáo của các viện, trường, các địa phương, báo cáo của các doanh nghiệp, các chuyên gia đầu nghành về tình hình, thực trạng, kinh nghiệm và kết quả của việc phát triển trồng sắn, chế biến và tiêu thụ sắn tại một số địa phương dẫn đầu về diện tích cũng như sản lượng của cây sắn. Những tham vấn các giải pháp, biện pháp cụ thể, thực thi cũng như những khó khăn, vướng mắc, những ý kiến đóng góp trao đổi thông tin của đông đảo bà con nông dân – những người trực tiếp gắn bó với cây sắn để giúp cho bà con yên tâm canh tác.        
    Minh Thuận


    Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

    Read More
    • Prev
    • 1
    • 2

    VẬN CHUYỂN

    Toàn quốc

    KHUYẾN MẠI

    & Quà tặng

    LIÊN HỆ

    0917 367 763

    UY TÍN

    & Chất lượng

    Cửa hàng

    • Hướng dẫn lắp đặt
    • Hỏi đáp
    • Ứng dụng mô hình tưới
    • Tin nông nghiệp
    • Tuyển dụng
    • Catalogue
    • Tin Nông Nghiệp
    • Ứng Dụng Mô Hình Tưới
    • Tuyển dụng
    • Tưới nông nghiệp
    • Thư viện
    • Giới thiệu

    Thông tin

    • Giới thiệu
    • Tin tức
    • Đội ngũ nhân viên
    • Làm đại lý phân phối
    • Chúng tôi đại diện cho
    • Liên hệ

    Hỗ trợ

    • Giao nhận hàng hóa
    • Thanh toán
    • Hướng dẫn mua hàng
    • Trả & đổi hàng
    • Chính sách bảo hành
    • Chính sách bảo mật thông tin

    Tài khoản

    • Giới thiệu
    • Video
    • Liên hệ
    • Tưới phun mưa
    • Tưới nhỏ giọt
    • Tưới cảnh quan
    • Tưới phun sương

    LIÊN HỆ MINH VŨ CO., LTD

    • 85. Nguỵ Như Kon Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
    • Email : minhvu1014@gmail.com
    • Điện thoại : 04 322 168 01

    CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG MINH VŨ

    © 2013-2017 All Rights Reversed.

    Close
    Sign in Or Register
    Forgot your password?

    NEW HERE?

    Registration is free and easy!

    • Faster checkout
    • Save multiple shipping addresses
    • View and track orders and more
    Create an account
    X
    • Menu
    • Categories
    • Trang chủ
    • Cửa hàng
      • Tài khoản
        • Cập nhật tài khoản
        • Cập nhật địa chỉ
        • Xem đơn hàng
        • Quên mật khẩu
      • Thanh toán
    • Tưới nông nghiệp
      • Hướng dẫn lắp đặt
      • Tư vấn chọn thiết bị tưới
      • Ứng dụng mô hình tưới
      • Tin nông nghiệp
      • Câu hỏi thường gặp
    • Thư viện
      • Video
      • Catalogue
    • Liên hệ
    • Tưới phun mưa
      • Béc tưới Ducar
      • Đầu tưới Rivulis
      • Béc tưới Nelson USA
      • Xe tưới tự cuốn Irrifrance
      • Béc tưới Đài Loan
      • Dây tưới phun mưa
    • Tưới nhỏ giọt
      • Dây (ống) tưới nhỏ giọt
        • Tưới nhỏ giọt DiG
        • Rivulis Israel
        • Tưới nhỏ giọt Seowon
      • Đầu tưới nhỏ giọt
      • Ống PE
      • Thiết bị lọc
      • Thiết bị châm phân
      • Phụ kiện ống PE
        • Phụ kiện ống 6mm
        • Phụ kiện ống 12mm
        • Phụ kiện ống 16mm
        • Phụ kiện ống 17mm
        • Phụ kiện ống 20mm
        • Phụ kiện ống 25mm
      • Phụ kiện tưới nhỏ giọt khác
    • Tưới cảnh quan
      • DIG USA
      • Cellfast
      • Hunter USA
    • Tưới phun sương
    • Van điện tử, bộ hẹn giờ
    • Ống nước – phụ kiện
    • Bơm nông nghiệp