* Arize B-TE1, giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu
ĐBSCL là vựa lúa lớn nhất của cả nước, với diện tích canh tác hàng năm hơn 4 triệu ha, chiếm khoảng 50% sản lượng lúa cả nước. Tuy nhiên, đây là một trong 5 vùng bị tác động mạnh của biến đổi khí hậu nên nông nghiệp ĐBSCL đang đứng trước những thách thức lớn.
Đất lúa bị nhiễm mặn, nhiễm phèn ngày càng phổ biến, mức độ ngày càng nghiêm trọng hơn. Việc canh tác lúa của người nông dân đang ngày càng khó khăn. Đối với người nuôi tôm cũng gặp tình trạng khó khăn tương tự. Môi trường nuôi thường xuyên biến động do nhiệt độ chênh lệch cao giữa các mùa trong năm, giữa ngày và đêm, nguồn nước bị ô nhiễm đã làm cho dịch bệnh phát sinh, tôm chết hàng loạt, nhiều vụ người nông dân thất trắng.
Trước thực trạng đó, từ tháng 8/2012, Tập đoàn Bayer đã phối hợp với các viện, trường thực hiện các khảo nghiệm về sự thích ứng và những tác động tích cực của việc canh tác lúa tại các tỉnh ven biển khu vực ĐBSCL thông qua dự án Khảo nghiệm giống lúa lai Arize B-TE1 trên vùng đất nhiễm phèn mặn tôm lúa.
Lúa lai Arize B-TE1 thích nghi tốt trên nền đất tôm lúa, cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao vượt trội
Kết quả bước đầu của dự án cho thấy, giống lúa lai Arize B-TE1 thích nghi tốt trên vùng đất phèn mặn, chống chịu sâu bệnh tốt, cho năng suất vượt trội, cải thiện môi trường nước của ruộng tôm.
Lúa lai Arize B-TE có bộ rễ khỏe giúp cải thiện môi trường đất, hấp thu tối đa các hóa chất và dưỡng chất dư thừa trên ruộng tôm giúp cân bằng môi trường nước cho vụ tôm sau. Sau khi thu hoạch vụ lúa, nguồn rơm rạ phân hủy tạo ra rong tảo làm chuỗi thức ăn đầu vào cho các phiêu sinh vật và làm thức ăn cho tôm.
Arize B-TE1 là giống lúa lai 3 dòng do Công ty Bayer tại Ấn Độ lai tạo, SX và được thương mại hóa ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tại Việt Nam, giống lúa này được Bộ NN-PTNT công nhận giống tiến bộ khoa học – kỹ thuật vào năm 2006 và là giống lúa lai đầu tiên được công nhận tại khu vực ĐBSCL.
Kết quả SX thực tế những năm qua tại ĐBSCL, Arize B-TE1 là giống thích ứng rộng, phù hợp cơ cấu giống cho vùng sản xuất 2 vụ lúa/năm. Đặc biệt trên khu vực tôm lúa, giống lúa lai này cho năng suất cao và ổn định nhất trong các năm qua, năng suất vượt trội của giống lúa lai này so với các giống phổ biến tại địa phương lên đến trên 2 tấn/ha.
Mô hình SX tôm lúa Arize B-TE1 của Tập đoàn Bayer được xem là một giải pháp hiệu quả cho người trồng lúa ở các tỉnh vùng ven biển Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng nhằm tổ chức SX đạt hiệu quả trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu, góp phần để Việt Nam tiếp tục giữ vững là một trong những cường quốc xuất khẩu gạo trên thế giới.
Tưới phun mưa bằng năng lượng mặt trời
Tỉnh Ninh Thuận vừa đưa vào ứng dụng công nghệ tưới phun mưa sử dụng năng lượng mặt trời cho nông dân tại xã Phước Hải. Tận dụng lợi thế và tiềm năng của vùng đất “thiếu mưa, thừa nắng”, công trình này đã giúp người dân có điều kiện mở rộng diện …
Read more on Khoa Học Phổ Thông
Đất hoang 'lột xác' nhờ điện
Hàng ngàn ha đất nông nghiệp được cải tạo sản xuất luân canh 3 vụ, hàng trăm mô hình nuôi trồng hiệu quả đang làm “thay da đổi thịt” các huyện miền núi tỉnh Đồng Nai – nơi cách đây không lâu phần lớn đất nông nghiệp bị bỏ hoang vào mùa khô vì thiếu …
Read more on Thanh Niên
Công nghệ tưới phun dùng năng lượng mặt trời
HCM đã triển khai ứng dụng công nghệ tưới phun mưa sử dụng năng lượng mặt trời tại Ninh Thuận giúp người dân có điều kiện mở rộng diện tích canh tác, giảm chi phí đầu tư, nâng cao hiệu quả sản xuất, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường sinh thái.
Read more on Khoa Học Phổ Thông
Từ số vốn ít ỏi, nhờ chịu khó “cày cuốc”, ông Y On Niê – hội viên nông dân buôn Sứt, thị trấn Ea Pôk, huyện Cư MGar, Đăk Lăk giờ đây đã có thu nhập vài tỷ đồng mỗi năm và có thể tự mua cả xế hộp đắt tiền.
Cũng như bao chàng trai Ê-Đê khác, sau khi lập gia đình, Y On Niê được bố mẹ chia cho một mẫu rẫy. Quanh quẩn với cây sắn cây ngô, cuộc sống gia đình của Y On chẳng những không khá lên mà ngày càng khốn khó khi các con lần lượt ra đời. Thương vợ khó nhọc, năm 1994, Y On quyết định thôi “chân” y tế xã về nhà cày cuốc. Nhận mấy triệu đồng nhờ nghỉ hưu sớm, ông bàn với vợ đầu tư trồng cà phê. Với quyết tâm thay đổi phận cơ hàn, không trông chờ ỷ lại vào Nhà nước, Y On động viên được vợ “đi sớm về hôm”. Ông kể: “Chỉ vì chuyện đi làm sớm mà vợ chồng tôi nhiều lần to tiếng. Đồng bào trong buôn vẫn cứ giữ cái thói quen xưa nay, đi làm muộn nhưng về rất sớm, thành ra vợ tôi bất bình”.
![]() |
| Ông Yon Niê bên xế hộp bạc tỷ. Ảnh: Dân Việt |
Ông Y On Niê bảo: “Ngày ấy, vất vả của chúng tôi khó mà kể hết. Bất kể nắng mưa, trời chưa bảnh mắt vợ chồng đã dắt díu nhau, lưng địu con, tay vác cuốc lên rẫy, quần quật đến tối mờ bàn tay mới lủi thủi về nhà”. Hồi mới trồng cà phê, Y On Niê mù tịt về kỹ thuật.
Vậy nên, cùng với việc cày cuốc trên rẫy, hàng đêm, Y On “cày” với đống sách, báo, tài liệu về kỹ thuật nông nghiệp, tìm những người thạo cách trồng cà phê để học hỏi kinh nghiệm. Cùng với đó, Y On Niê tích cực tham gia các lớp tập huấn do Hội nông dân tổ chức. Đất chẳng phụ công người, sau nhiều năm cơ cực, nhà Y On Niê đã có cái ăn của để.
Tiền tích lũy được Y On Niê mua thêm đất đai mở rộng sản xuất. Cứ như thế, đến năm 2005, trong tay ông đã có hơn 20 ha cao su, 8 ha cà phê kinh doanh cùng một trang trại nuôi hàng chục con heo. Hàng năm, thu nhập gia đình ông lên đến gần 3 tỷ đồng. Tính ra, mỗi tháng một người trong gia đình ông có thu nhập gần 30 triệu đồng.
Ông còn tạo công ăn việc làm ổn định cho hơn 10 hộ đồng bào dân tộc thiểu số trong buôn. Nhiều hộ nghèo được ông hỗ trợ hàng chục triệu đồng để xây dựng nhà cửa, giúp nhiều gia đình hội viên nông dân thoát nghèo. Tất cả các hoạt động xây dựng thôn buôn giàu mạnh, ông luôn là người đi đầu với những đóng góp không nhỏ.
Từ những thành tích ấy 5 năm gần đây, năm nào gia đình ông cũng đạt danh hiệu sản xuất kinh doanh giỏi. Gia đình ông cũng đã được nhận được bằng khen của Thủ tướng Chính phủ. Giờ đây, nhà Y On Niê đã xây nhà khang trang, tiện nghi đủ đầy, con cái được học hành đến nơi đến chốn. Ông đã sắm xe hơi có giá bạc tỷ để đi… thăm rẫy.
Hỏi về bí quyết làm giàu, ông chia sẻ: “Trước tiên phải siêng năng, biết tiết kiệm từ những cái nhỏ nhất, mạnh dạn làm ăn, chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho phù hợp. Song, nếu không có kiến thức, không nắm vững khoa học kỹ thuật thì không thể sản xuất hiệu quả”.
Theo Dân Việt
| Nông dân ra đồng cấy dặm |
Chưa năm nào nông dân Phú Yên phải đối mặt tình trạng sạ đi, sạ lại lúa ĐX 2- 3 lần như năm nay.
Sáng mùng 4 tết (25/1), nông dân các huyện Đông Hòa, Đồng Xuân, Tuy An và TP Tuy Hòa ra đồng cấy dặm ruộng lúa bị hư hại do ngập úng từ trước tết. Anh Nguyễn Văn Lịch ở xã Hòa Vinh (huyện Đông Hòa) cho biết: “Cánh đồng Ổ Vạt này nằm dọc mương rút Bàu Bèo nên khi sạ dính ngay nước thượng nguồn đổ về. Trong khi đó, cửa biển Hòa Hiệp Trung thoát chậm nên ruộng ngập úng, lúa non ngã rạp. Trước tết, do thiếu mạ nên người dân chỉ cấy dặm được một ít, số còn lại chờ mạ lớn mới cấy dặm”.
Anh Lịch cho biết thêm: “Chiều mùng 3 cúng tạ xong, vợ chồng tôi thuê hai người nữa ra đồng cấy dặm. Trời đang nắng ấm, cấy sớm cho mạ mau bén rễ”. Ra đồng, vợ chồng anh Lịch mang theo cả hương tết, rim mứt, cốm gừng để mọi người ăn lúc nghỉ mệt. Còn ông Nguyễn Văn Thư, Phó phòng NN-PTNT huyện Đông Hòa cho biết: Do ảnh hưởng đợt mưa kéo dài trước tết, địa phương này có đến 1.136 ha lúa bị ngập úng, hư hại trong tổng số hơn 4.573 ha đã gieo sạ. Bị thiệt hại nặng nhất là các xã Hòa Xuân Tây, Hòa Xuân Đông, Hòa Vinh, Hòa Hiệp Bắc, Hòa Hiệp Trung. Tại các địa phương này, nông dân đang tiến hành gieo sạ lại diện tích hư hại do ngập úng. Một số cánh đồng như Vực Kính, Quang Trại thuộc xã Hòa Tân Đông, nông dân tiến hành cấy dặm.
Do ảnh hưởng đợt mưa kéo dài ngày cuối tháng Chạp vừa qua, nhiều diện tích lúa non ở xã Xuân Sơn Nam (huyện Đồng Xuân) đổ rạp. Hiện đang thời điểm nước rút nên bà con ra đồng be bờ bao, tranh thủ sạ cho kịp thời vụ. Ông Nguyễn Đình Danh ở xã Xuân Sơn Nam có 3 sào ruộng. Trước tết đã sạ đi sạ lại nhưng cả hai lần đều bị ngập úng nên mầm lúa không phát triển được.
Ông nói: “Vui tết vậy là đủ rồi, làm gì làm cũng phải lo nồi gạo cho gia đình”. Trong khi đó, nhiều thửa ruộng lúa ĐX gần 30 ngày tuổi ở xã An Hòa (huyện Tuy An) bị chuột cắn phá gây thiệt hại nặng. Ông Huỳnh Văn Hải ở xã An Hòa than thở: “Chuột cắn phá, lúa còn thưa thớt, tôi trông thấy mà nóng mặt. Sáng mùng 4 tết tôi vội kéo máy bơm ra đồng. Đợt nước đầu tiên này bơm đến hết mùng 5 cho… lụt. Nước ngập sâu, chuột không thể bơi vào ruộng cắn phá”.
| Những lô cao su 15 tuổi bị chặt phá để trồng mới |
Năm 1997, Nông trường Lam Sơn (nay là Cty TNHH MTV Lam Sơn, gọi tắt là Cty Lam Sơn) đầu tư trồng hàng trăm ha cao su tại huyện miền núi Ngọc Lặc và Thọ Xuân (Thanh Hóa). Nay cây cao su đã 15 năm tuổi song lượng mủ chỉ lèo tèo thu vài ba cân/ha/ngày khiến nảy sinh mâu thuẫn giữa Cty với hộ dân.
Để giải quyết khó khăn, Cty Lam Sơn tiến hành chặt hết những vườn cao su kém mủ để trồng lại và tiếp tục chờ đợi kết quả trong ít nhất 8 năm nữa. Chẳng hiểu lần chờ đợi này có đem đến phép màu nào không?
CAO SU TỊT MỦ
Những năm 1997 – 2000, hưởng ứng chủ trương của tỉnh Thanh Hóa, Nông trường Lam Sơn kêu gọi công nhân, người dân tại Ngọc Lặc và Thọ Xuân thay thế một phần diện tích hoa màu chuyển sang trồng cao su với niềm hy vọng tạo ra bước đột phá về kinh tế cho khu vực miền tây xứ Thanh. Theo đó, Nông trường cho dân ứng toàn bộ giống, phân bón, tập huấn quy trình kỹ thuật trị giá khoảng 10 triệu đồng/ha không tính lãi, sau đó trừ dần vào mủ khi cao su bắt đầu cho thu hoạch.
Trong thời gian chờ cao su có mủ, hộ nhận khoán được hưởng tiền công chăm sóc và toàn bộ lợi nhuận hoa màu trồng xen kẽ dưới tán cao su đến năm thứ 4. Với cơ chế ưu đãi như vậy, gia đình nào cũng nhiệt tình hưởng ứng. Chỉ trong thời gian ngắn, gần 500 ha cao su đã phủ kín những quả đồi trước kia là vựa mía của Nông trường Lam Sơn. Chính quyền sở tại cũng vui mừng tin tưởng cây cao su chính là lời giải cho bài toán chuyển đổi cơ cấu kinh tế và xóa đói giảm nghèo cho địa phương.
Thời gian đầu, cây cao su phát triển khá tốt khiến bà con nông dân và cả công nhân ai cũng vui mừng khấp khởi. Khoảng năm 2005, khi cao su được tuổi thu hoạch, người người hồi hộp đợi những giọt mủ đầu tiên song đều thất vọng khi cao su cho mủ rất ít. Gia đình nào chăm sóc tốt, chịu khó cạo may ra được 5-6 kg/ha/ngày, còn lại lèo tèo 2-3 kg.
Nghĩ cây cao su còn non ít mủ nên người dân vẫn hy vọng năm sau sản lượng mủ sẽ cao hơn. Nhưng hy vọng bao nhiêu thì thất vọng bấy nhiêu, chờ đợi hoài đến nay cao su đã 15 tuổi chúng vẫn chỉ cho mủ như vậy, thậm chí nhiều lô còn không cho mủ nên hầu hết không hộ nào nộp sản đủ mủ cao su cho Cty Lam Sơn, bị Cty phạt như cơm bữa, thậm chí tiền phạt còn nhiều hơn tiền nợ đầu tư ban đầu.
Vì phải đóng rất nhiều khoản chi phí cũng như tiền thuê đất trong khi cao su ngày một ít mủ nên người nhận khoán cao su nợ nần chồng chất. Tính ra một ngày công đi cạo mủ cao su từ 3 giờ sáng, sau khi trừ mọi chi phí phải đóng góp cho phía Cty Lam Sơn người dân chỉ còn lại trong tay 10.000-15.000 đồng.
Chị Nguyễn Thị Thao, Trưởng thôn 10 (xã Minh Tiến – Ngọc Lặc), một trong những thôn có diện tích cao su lên tới gần 100 ha đắng đót cho biết, dù cây cao su cho mủ được 6-7 năm nay, nhưng hiện 73 hộ dân thôn chị mới có 10% số hộ trả được 50% nợ ban đầu, còn lại hộ nợ ít thì chục triệu, nhiều lên tới vài chục triệu. “Hầu như nhà nào cũng nợ, ngay như nhà tôi nợ Cty Lam Sơn hơn 18 triệu đồng hiện chưa biết trông vào đâu để trả. Cô em gái tôi đi cạo mủ cao su ròng rã đúng một tháng trời sau khi trừ hết các khoản tiền này nọ còn cầm về đúng 500 ngàn mà tủi thân tấm tức khóc mấy ngày trời”. Chị Thao bức xúc nói.
Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Xuân Thành – Giám đốc Cty Lam Sơn thừa nhận, nguyên nhân chính khiến người dân và công nhân nợ tiền Cty không trả được do sản lượng mủ cao su quá thấp. Còn nguyên nhân khiến cao su mủ thấp ông Thành chỉ phỏng đoán do chất lượng giống kém cộng khí hậu, địa hình khắc nghiệt, bên cạnh đó cách chăm sóc, khai thác của người dân lại chưa đúng kỹ thuật.
Ông giám đốc nói do giống, do dân, đâu biết thực tế việc khảo sát trồng cao su tại đâu và đưa giống nào vào trồng (từ năm 1997) đều được phía Nông trường hướng dẫn, cung cấp (!).
PHIÊU LƯU LẦN NỮA
Những ngày gần đây, nếu ai có dịp đi trên đường Hồ Chí Minh đoạn qua xã Minh Tiến, huyện miền núi Ngọc Lặc dễ dàng bắt gặp hình ảnh những người dân đang chặt phá tan tành những rừng cao su đáng lẽ đang trong đỉnh điểm thu hoạch. Tiếng cưa máy rèn rẹt, phành phạch, những cây cao su to hơn bắp vế đổ rào rào khiến ai nhìn cũng tiếc ngẩn ngơ.
Ai đâu thể ngờ rằng, hàng trăm ha cao su đầu tư nhiều tỷ đồng trong chớp mắt đã biến thành củi được phía Cty Lam Sơn định giá có vài triệu đồng/ha. Bản thân Cty Lam Sơn hiện cũng chưa biết khi nào có thể thu hồi được tiền vốn đầu tư trồng cao su từ các hộ nhận khoán nên nhân tiện dịp thanh lý rừng cao su tịt mủ để trồng mới và lấy luôn tiền bán cây để trừ bớt nợ, số nợ còn lại Cty khoanh lại không tính lãi để “động viên” người dân yên tâm tham gia trồng cao su lần thứ 2.
Ngồi thẫn thờ bên đồi cao su đã bị đốn sạch, anh Phạm Ngọc Quỳnh, thôn 10, xã Minh Tiến giờ nghĩ lại mới thấy ngày xưa mình ngu muội. Nhà có 2 ha đất đồi dốc toàn đá vậy mà anh cũng đem đi góp trồng cao su, lúc xuống giống thậm chí anh Quỳnh phải dùng xà beng để phá, để đào hố thì thử hỏi cây cao su làm sao có nhiều mủ được. Không chỉ anh Quỳnh mà phần lớn diện tích cao su không mủ đều do trồng ở địa hình đồi quá dốc, chỉ phù hợp trồng rừng.
Được biết, trong năm 2011 Cty Lam Sơn đã trồng mới thay thế được 126 ha cao su, Cty dự kiến từ nay đến năm 2013 sẽ trồng lại 50 ha nữa, số diện tích đang cho khai thác còn lại sẽ thay thế dần theo từng năm, trong thời gian đó cố “cọ quèn” vớt vát được cân mủ nào hay cân đó bởi giờ chặt hết Cty cũng khốn khổ vì không thu hồi được vốn.
Điều ngược lại, người dân lại càng muốn thanh lý rừng cao su càng sớm càng tốt, vì gần 500 ha cao su trồng từ những năm 1997 – 2000 tại Ngọc Lặc, Thọ Xuân không có hiệu quả kinh tế, định mức khoán với Cty Lam Sơn thì không hề thay đổi nhưng mủ cao su thì cứ tịt dần theo thời gian nên càng để lâu các hộ càng nợ Cty nhiều hơn.
Có một điều các hộ nhận khoán cao su hiện nay rất băn khoăn là trong cơ cấu giống của Cty Lam Sơn, ngoài hai giống mới là Ric 211 và DT1 thì vẫn có hai giống cao su cũ đã trồng từ năm 1997 là RRim 600 và RRim 172 nay không ra mủ. Phía Cty Lam Sơn lý giải rằng, chất lượng giống và kỹ thuật ngày trước khác bây giờ rất nhiều và đây cũng là bộ giống do Viện Nghiên cứu cao su Việt Nam khuyến cáo trồng tại khu vực miền Trung. |
Vậy là sau 15 năm đeo đuổi bất thành, giờ Cty Lam Sơn lại đưa người dân tại miền tây Thanh Hóa tiếp tục một cuộc phiêu lưu lần nữa với cây cao su mà kết quả của nó phải tới 8 năm sau mới có câu trả lời. Chúng tôi được biết, trong quá khứ, Cty Lam Sơn đã không ít lần mất trắng hàng chục ha cao su vì sương muối, nắng nóng và gió bão… Một ha cao su trồng tại đây khoảng 550 cây đến lúc thu hoạch mủ còn lại khoảng 300 cây là nhiều do thiên nhiên tàn phá.
Nhìn thấy khó khăn, khắc nghiệt như vậy và đã có cả bài học thất bại làm kinh nghiệm, lý do gì khiến Cty Lam Sơn vẫn quyết tâm đeo đuổi bằng được cây cao su? Trả lời câu hỏi này, một cán bộ kỹ thuật Cty Lam Sơn cho hay, trồng mía thì không thể có đột phá về kinh tế được, trồng cây cao su nếu thành công người dân sẽ có việc làm quanh năm (thực chất cao su tại Thanh Hóa chỉ khai thác mủ được 6-7 tháng), thời gian khai thác cao su dài và thu nhập trên một ha lớn hơn rất nhiều so với các loại cây trồng khác.
Kịch bản “Gia Cát Dự” là như vậy, nhưng thực tế tại Cty Lam Sơn chứng minh, trong 1.000 ha đất của Cty thì 500 ha mía mỗi năm cho thu hoạch gần 50 tỷ đồng trong khi 500 ha cao su mỗi năm thu hoạch giỏi lắm được vài tỷ đồng, không đủ trả chi phí nhân công, vận chuyển, sơ chế thì nói gì đến chuyện đột phá kinh tế.
Hạn hán trên diện rộng ở Tây Nguyên khiến nhiều loại cây trồng phải đối mặt với tình trạng khô hạn căng thẳng. Giải pháp sử dụng kỹ thuật tưới nước nhỏ giọt đem lại hiệu quả tốt, tuy nhiên không thể thực hiện được.
Theo dự báo của Hiệp hội cà phê cacao Việt Nam, sản lượng cà phê năm nay có thể giảm khoảng 30% do thiếu nước tưới. Nhưng đáng lo ngại hơn, nếu tình hình này kéo dài, cây cà phê thậm chí có thể chết vì khô hạn.
Đối với người trồng cà phê Tây Nguyên, cứu hạn cho cây lúc này là nhiệm vụ vô cùng quan trọng trong thời gian này. Tuy nhiên, nhiều công nghệ tưới tiết kiệm nước dù đã được kiểm nghiệm, nhưng lại không thể triển khai được trên diện rộng do những khó khăn về hạ tầng nông thôn.
Cuối tháng 3, dù đang mùa cà phê trổ bông nhưng những việc hoa trổ bông tại vườn cà phê huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắc lại rất hiếm hoi. Đợt hạn hán lớn nhất từ 10 năm trở lại đây đang trở thành mối đe dọa đợt ra hoa lần thứ 3 của vụ cà phê năm nay và rất có thể sẽ không xảy ra.
Đối với gia đình ông Ama Chương, trong hoàn cảnh nắng hạn này, ông mới thấy được những quyết định của gia đình trong việc đầu tư hệ thống nước tưới nhỏ giọt 2 năm trước là rất đúng đắn. Vườn cà phê của ông không những ra hoa bình thường mà lượng phân bón cũng được tiết kiệm đáng kể.

Vườn cà phê của ông Ama Chương là vườn cà phê đầu tiên được công ty cổ phần cà phê Trung Nguyên thí điểm hỗ trợ hệ thống tưới nước nhỏ giọt. Sau 3 năm thực hiện sản lượng cà phê đã tăng từ 1,6 tấn/ha, lên khoảng 3 tấn/ha.
Theo các cán bộ kỹ thuật của Trung Nguyên, dù hiệu quả của hệ thống tưới nhỏ giọt đã được khẳng định, tuy nhiên đến nay sau 3 năm cũng mới chỉ có 6 vườn cà phê tưới nước nhỏ giọt được triển khai trên toàn khu vực Tây Nguyên.
Bà Võ Thị Dung, cán bộ kỹ thuật, công ty cổ phần Cà phê Trung Nguyên cho biết: “Mô hình này sở dĩ chưa được nhân rộng là do vốn đầu tư ban đầu khá lớn. Chỉ tính riêng tiền mua thiết bị đã vào khoảng 50 – 55 triệu/ha, ngoài ra còn cần xây nhà bảo vệ các thiết bị trung tâm và cần phải có điện để hoạt động. Do hàng tuần nông dân sẽ tưới phân qua hệ thống nên nhất thiết cần phải có điện. Tôi nghĩ, có lẽ vì vậy mà mô hình vẫn chưa được nhân rộng”.
Lưới điện đang là một trong những trở lực lớn nhất khiến công nghệ tưới nhỏ giọt không thể nhân rộng tại khu vực Tây Nguyên. Yêu cầu của một hệ thống tưới công nghệ cao này là phải sử dụng điện ba pha nhưng nhiều vườn cà phê ở đây thậm chí còn không có cả đường điện.
Từ vài năm nay việc nghiên cứu công nghệ tưới nhỏ giọt sử dụng máy nổ hoặc điện một pha đã được thực hiện nhưng đến nay vẫn chưa có giải pháp khắc phục khả quan hơn.
Bà Nguyễn Thị Thanh Loan, BQL Dự án mẫu Nông – Công nghiệp Cà phê Ea Tu, công ty cổ phần Cà phê Trung Nguyên cho biết: “Nếu mà sử dụng điện một pha hệ thống sẽ chạy yếu, không thể đẩy nguồn nước đi. Ngoài ra, điện yếu sẽ phải sử dụng máy công suất nhỏ hơn. Nếu sử dụng máy nổ sẽ phải tốn nhiên liệu và tốn công”.
Ngoài hạn chế về chi phí đầu tư, khó khăn về nguồn điện và máy bơm thì tưới nhỏ giọt cũng thường xuyên gây hiện tượng tắc nghẹt đầu tưới và mối mọt dẫn đến việc thường xuyên phải thay ống dẫn đến chi phi vận hành và bảo dưỡng cũng tăng cao.
Hơn nữa, mặc dù đầu tư tưới nhỏ giọt rồi, bà con vẫn cần tưới song hành bằng vòi máy bơm bởi cây cà phê ngoài cần nguồn nước ở gốc cây thì cũng cần tưới ướt lá, tưới làm mát môi trường và tưới rộng dưới tán để đảm bảo bộ rễ hút nước đủ, đều và phát triển.
Năm nay, một số bà con đã áp dụng hình thức tưới phun mưa toàn phần, và bước đầu đã cho kết quả tốt, cây tăng trưởng tốt, tạo lớp hữu cơ ở bề mặt, trái ra sai và đều hạt hơn, năng suất tăng đáng kể. Anh Đại một nông dân ở Eakar cho hay.
Những vườn cà phê ở Tây Nguyên vẫn đang tiếp tục khô hạn. Ở nhiều nơi người nông dân thậm chí đã phải chứng kiến cây chết khô mà không có cách nào khắc phục. Một công nghệ tưới để giúp người dân chống chọi qua mùa khô hạn chắc chắn là điều khó có thể thực hiện.
(Sưu tầm)

