Tài khoản

  • Giỏ hàng
  • Thanh toán
  • Tài khoản
  • Login
Giải pháp tưới tự động tối ưu trong nông nghiệp. Tưới nhỏ giọt - phun mưa - phun sương.
Tưới Nông Nghiệp Tự Động
  • Trang chủ
  • Cửa hàng
    • Tài khoản
      • Cập nhật tài khoản
      • Cập nhật địa chỉ
      • Xem đơn hàng
      • Quên mật khẩu
    • Thanh toán
  • Tưới nông nghiệp
    • Hướng dẫn lắp đặt
    • Tư vấn chọn thiết bị tưới
    • Ứng dụng mô hình tưới
    • Tin nông nghiệp
    • Câu hỏi thường gặp
  • Thư viện
    • Video
    • Catalogue
  • Liên hệ
0964 824 106 / 0917367763
Email: minhvu1014@gmail.com
All Departments
  • Tưới phun mưa
    • Béc tưới Ducar
    • Đầu tưới Rivulis
    • Béc tưới Nelson USA
    • Xe tưới tự cuốn Irrifrance
    • Béc tưới Đài Loan
    • Dây tưới phun mưa
  • Tưới nhỏ giọt
    • Dây (ống) tưới nhỏ giọt
      • Tưới nhỏ giọt DiG
      • Rivulis Israel
      • Tưới nhỏ giọt Seowon
    • Đầu tưới nhỏ giọt
    • Ống PE
    • Thiết bị lọc
    • Thiết bị châm phân
    • Phụ kiện ống PE
      • Phụ kiện ống 6mm
      • Phụ kiện ống 12mm
      • Phụ kiện ống 16mm
      • Phụ kiện ống 17mm
      • Phụ kiện ống 20mm
      • Phụ kiện ống 25mm
    • Phụ kiện tưới nhỏ giọt khác
  • Tưới cảnh quan
    • DIG USA
    • Cellfast
    • Hunter USA
  • Tưới phun sương
  • Van điện tử, bộ hẹn giờ
  • Ống nước – phụ kiện
  • Bơm nông nghiệp
0
There are 0 item(s) in your cart
    Subtotal: 0 ₫
    View Cart
    Check Out
    • Home
    • Archives for NhaBeAgri

    Chuyên mục

    Bài viết mới nhất

    • Chi Phí Lắp Đặt Hệ Thống Tưới Phun Mưa Cục Bộ Cho Cây Cam
    • ĐẦU TƯỚI PHUN MƯA RONDO
    • CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG MINH VŨ Tham Gia Triển Lãm Growtech
    • Kỹ thuật tưới cam
    • KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÀ CHUA TRONG NHÀ MÀNG
    • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Dưa Hấu
    • Tưới phun mưa cục bộ cho cây sầu riêng

    Author Archives: NhaBeAgri

    13 Th10

    Nuôi Dê Sữa

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments Nuôi dê sữa
    Kỹ thuật nuôi dưỡng dê lấy sữa:

    Chế độ nuôi dưỡng tốt phải đảm bảo cho dê mẹ phát triển bình thường khi có chửa, cho nhiều sữa trong thời kỳ cho sữa. Trước và sau khi đẻ phải cho dê ăn ngon, cháo cám… tùy theo năng suất, chất lượng sữa. Năng suất, chất lượng sữa phụ thuộc vào thành phần và giá trị dinh dưỡng của thức ăn.

    nuoi de 02

    Hình minh họa

    Thiếu thức ăn thô xanh, nhất là thức ăn thô xanh non ngon thì chất lượng sữa sẽ kém. Thừa thức ăn tinh hỗn hợp thì không chỉ chất lượng sữa giảm, chi phí thức ăn tăng mà còn có thể gây nên nhiều bệnh tật, nhất là các bệnh sản khoa trước, trong và sau khi sinh.

    Chế độ nuôi dưỡng dê sữa phải căn cứ vào nhu cầu dinh dưỡng. Nhu cầu vật chất khô của dê mẹ vào cuối kỳ có chửa giảm còn trung bình 2 kg/100 kg thể trọng. Sau đó, nhu cầu vật chất khô tăng và đạt mức cao nhất vào tuần lễ thứ 14-15 (trung bình 4,5 kg/100 kg thể trọng), rồi lại giảm dần. Nói chung, nhu cầu vật chất khô của dê sữa khoảng 5-6% thể trọng là thích hợp.

    Dựa vào nhu cầu chất dinh dưỡng của dê sữa, ta có thể tính được tiêu chuẩn cho ăn như sau:

    Trong thời kỳ cạn sữa, cần đảm bảo tiêu chuẩn ăn cho thai phát triển tốt làm cơ sở để giai đoạn sau đạt năng suất sữa cao. Trong thời kỳ cho sữa, tiêu chuẩn cho ăn thay đổi tùy theo năng suất và phẩm chất sữa. Nếu tỷ lệ mỡ sữa là 4-4,5%, năng suất 1 kg/ngày thì dê sữa cần thêm 0,4 đơn vị thức ăn và 50 gram Protein dễ tiêu.

    Đối với dê cái non, mới giao phối lần đầu, chưa thành thục tăng thêm 10% đơn vị thức ăn và lượng Protein dễ tiêu. Đối với dê cái mới đẻ tăng thêm 15 gam Protein dễ tiêu. Đối với dê cái sức yếu, mỗi ngày thêm 0,15 kg thức ăn và 20 gam Protein dễ tiêu. Đối với dê đang cho sữa, mỗi ngày thêm 0,2-0,3 kg thức ăn và 25-30 gam Protein dễ tiêu.

    Ngoài thức ăn thô xanh phong phú chất lượng tốt, cần bổ sung thêm thức ăn giàu đạm, muối, khoáng, sinh tố… vào khẩu phần thức ăn hằng ngày cho dê.

    Nếu đã cho ăn thêm thức ăn như vậy trong vòng 2 tuần mà năng suất sữa không tăng thì không nên cho ăn thêm nữa.

    Khi phối hợp khẩu phần ăn hằng ngày cho dê cần theo nguyên các tắc sau:

    -Căn cứ vào thể trọng của dê mẹ và năng suất sữa hằng ngày.

    -Tận dụng nguồn thức ăn có sẵn ở địa phương để giảm giá thành nhưng phải đảm bảo đủ tiêu chuẩn và đúng tỷ lệ năng lượng, Protein trong khẩu phần.

    -Để kích thích tối đa khẩu vị của dê cần dùng nhiều loại thức ăn bổ sung cho nhau.

    Theo kinh nghiệm nuôi dê sữa ở một số địa phương cho thấy: Đối với loại dê có thể trọng trung bình 40 kg, mỗi ngày cho 2 kg sữa và được chăn thả từ 5-6 giờ trên đồng cỏ tự nhiên, khi về chuồng cần cho ăn thêm mỗi con 1,5 kg cây keo dậu tươi hoặc cỏ họ đậu và 0,5 kg thức ăn hỗn hợp.

    Nếu cho dê sữa ăn urê thì không được vượt mức 1% trọng lượng khẩu phần (tính theo vật chất khô) và không nhiều hơn 1/3 tổng số Protein. Nên cho dê ăn gỉ đường theo mức 5% trọng lượng thức ăn phối hợp. Nếu cho dê ăn cỏ khô họ đậu, thì bổ sung thêm thức ăn hỗn hợp có 14% Protein và photpho dạng mononatri photphat.

    Nếu cho dê ăn cỏ khô họ Hòa Thảo, thì bổ sung thêm thức ăn hỗn hợp có 16-18% Protein. Nhất thiết phải cho dê sữa ăn thêm Canxi, photpho, muối ăn và iốt…


    Nông nghiệp và Thuỷ sản Việt Nam – Vietnam Agriculture and Aquaculture

    Read More
    13 Th10

    Chọn Giống Dê Năng Suất Cao

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments
    Ngoài một số giống dê nội và nhập ngoại quen thuộc như dê Bách thảo, Boer…, hiện chúng ta còn có một số giống dê nhập ngoại và lai tạo cho năng suất cao. Xin giới thiệu một số loại dê cho năng suất cao và cách chọn lựa loại giống dê này.

    nuoi de 03

    Hình minh họa

    Những giống dê năng suất cao

    – Dê Barbari: Đây là giống dê sữa của Ấn Độ có tầm vóc tương đối nhỏ, màu lông trắng, trắng đốm nâu, sừng dẹp và ngắn, tai mảnh nhỏ và đứng thẳng trên đầu, mặt thẳng, chân yếu. Con đực có râu cằm rậm. Dê Barbari thích nghi tốt với điều kiện nuôi nhốt, nơi thiếu bãi chăn nuôi.

    – Dê Jamunapari: Đây là giống dê có nguồn gốc từ Ấn Độ, có màu lông trắng tuyền, chân cao, trọng lượng trưởng thành 50-60kg, con đực 70-80kg. Khả năng sinh sản 1,3 con/lứa và 1,3 lứa/năm, cho sữa 1,4-1,6kg/ngày (chu kỳ 180 ngày). Dê phàm ăn, chịu đựng tốt thời tiết nóng.

    – Dê lai giữa giống Saanen, Alpine với Bách thảo, Barbari: Là nhóm dê được tạo ra từ dê đực Saanen hay Alpine với dê cái Bách thảo hay Barbari, phần lớn có màu lông trắng (với Saanen) và màu lông nâu (với Alpine).

    Chọn giống

    – Chọn dê cái hướng sữa

    Nên chọn dê cái có đặc điểm: Đầu rộng, hơi dài, cơ chắc khoẻ, vẻ mặt linh động. Hàm dài khoẻ. Cổ dài, mềm mại, nhọn về phía đầu. Lưng thẳng, sườn cong và xiên về phía sau. Chân trước thẳng, cân đối. Hông rộng, hơi nghiêng đảm bảo cho dê cái có bầu vú gắn chặt vào phần bụng.

    Những mạch máu lớn nổi rõ ở phía sau. Khớp mắt cá thẳng tránh cho dê khi đi không làm ảnh hưởng tới các mạch máu trên bầu vú. Những núm vú to dài từ 4 – 6cm treo vững vàng trên bầu vú, bầu gắn chắc vào phần bụng, gọn về phía trước, thấy rõ các tĩnh mạch ở phía trước bầu vú, gân sữa (tĩnh mạch) chạy từ bầu vú lên tới nách chân trước, gân sữa càng gấp khúc dê càng nhiều sữa.

    Ngoài những đặc điểm trên, cần chọn những dê cái đẻ dễ dàng, ăn tốt và dễ vắt sữa.

    – Dê cái giống hướng thịt

    Đảm bảo những đặc điểm ngoại hình sau: thân hình đều đặn, đầu nhỏ và nhẹ, cổ vừa phải, thon, ngực nở và sâu, lưng thẳng và rộng, bộ phận sinh dục nở nang, chân khoẻ, da mềm mại, lông mượt, khi phối giống lần đầu đạt thể trọng từ 18 – 20kg lúc 9 – 10 tháng tuổi.

    – Dê đực giống hướng sữa

    Dê đực có đầu rộng, thân hình cân đối, cổ to, ngực nở, tứ chi khoẻ mạnh, cứng cáp, hai tinh hoàn to và đều đặn, chọn con đực từ con mẹ là dê cao sản từ lứa thứ 2-4 (chọn con đực từ con một) và chọn con đực từ con bố tốt.

    – Dê đực giống hướng thịt

    Chọn những con có đầu to, cổ khoẻ, thân hình cân đối xương chắc, đùi nổi bắp thịt, khoeo rộng, gân chân khô, hai hòn cà to và đều nhau, dáng điệu nhanh nhẹn, hoạt bát, tính dục hăng. Dê đực phải đảm bảo dòng giống cần dựa vào nguồn gốc và đàn con để đánh giá: bố mẹ đẻ sai, đàn con khoẻ mạnh, chóng lớn.


    Nông nghiệp và Thuỷ sản Việt Nam – Vietnam Agriculture and Aquaculture

    Read More
    12 Th10

    Nuôi Dê Thế Nào Cho Hiệu Quả?

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments Kỹ thuật nuôi dê hiệu quả cao
    Nguồn: Nông Nghiệp Việt Nam, 12/2004
    Ngày đăng tin: 12/10/2013

    Để nuôi dê đạt năng suất cao, chất lượng tốt thì phương pháp chăn nuôi đóng vai trò quyết định. Vì vậy phải chọn cách nuôi nào cho hiệu quả, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng cá nhân, cơ sở chăn nuôi.

    nuoi de 04

    Hình minh họa

    Nuôi dê thâm canh

    Đây là phương thức chăn nuôi dê phổ biến ở những nơi không có điều kiện chăn thả, nhưng lại có khả năng đầu tư thâm canh cao, gần các đô thị, thị trường tiêu thụ… Với phương thức này dê được nuôi nhốt, đầu tư thâm canh tại chuồng là chủ yếu.

    Nguồn thức ăn nuôi dê thâm canh phải phong phú và đa dạng, đảm bảo thành phần và giá trị dinh dưỡng cho dê bao gồm các loại thức ăn tinh hỗn hợp giàu dinh dưỡng như đạm, đường, muối khoáng, vi lượng và sinh tố…; thức ăn thô xanh như lá cây, cỏ tự nhiên hoặc trồng cỏ voi, cỏ sả, các loại lá cây giàu đạm như cây kẹo dậu, thân, ngọn, lá mía và các phụ phẩm nông nghiệp… đều là nguồn thức ăn tốt cho dê.

    Việc quản lý đàn dê và công tác nhân giống được tiến hành theo cá thể dễ dàng trên cơ sở theo dõi, ghi chép kết quả sản xuất của cá thể nhằm từng bước nâng cao năng suất của đàn giống.

    Nuôi dê bán thâm canh

    Đây là phương thức chăn nuôi phổ biến và phù hợp nhất trong điều kiện chăn nuôi ở nước ta. Dê được nuôi theo kiểu chăn dắt hoặc cột buộc luân phiên ở khu vực quanh nhà, hoặc nuôi nhốt kết hợp chăn thả.

    Ngoài các loại cây lá tự nhiên mà dê kiếm được khi chăn thả vào ban đêm, dê cần được cung cấp bổ sung một lượng thức ăn tinh hỗn hợp nhất định như: đạm, muối, khoáng… và cỏ, lá, phế phụ phẩm nông nghiệp khác.

    Việc quản lý đàn và công tác nhân giống dê cũng được tiến hành theo cá thể. Phương thức này được áp dụng để nuôi dê kiêm dụng sữa, thịt.

    Nuôi dê quảng canh

    Đây là phương thức nuôi dê phổ biến ở những vùng trung du và miền núi hoặc những nơi đất đai rộng rãi, có nhiều cỏ, cây… Dê được nuôi chăn thả hoàn toàn theo bầy đàn, chúng tự tìm kiếm và chọn lọc  những loại thức ăn tự nhiên phong phú và đa dạng…

    Nếu có điều kiện nên bổ sung thêm một lượng thức ăn nhất định tại chuồng vào ban đêm như: thức ăn tinh hỗn hợp, tấm cám ngũ cốc các loại, khoai, sắn, củ quả các loại… thức ăn bổ sung đạm (xác sắn, bã đậu, hèm bia rượu…), muối, khoáng và cỏ, lá, phế phụ phẩm nông nghiệp khác…

    Nuôi dê theo phương thức chăn thả quảng quanh cho năng suất thấp nhưng vốn đầu tư về giống, chuồng trại, thức ăn, thuốc thú y, công chăm sóc… thấp hơn nhiều, nên hiệu quả kinh tế cao. Việc quản lý đàn và công tác nhân giống dê theo cá thể. Phương thức này áp dụng để nuôi dê lấy thịt.


    Nông nghiệp và Thuỷ sản Việt Nam – Vietnam Agriculture and Aquaculture

    Read More

    Tỷ phú đu đủ

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments

    Anh Đỗ Phú Ngự (ảnh) ở ấp Trảng Lớn, xã Hắc Dịch, huyện Tân Thành, Bà Rịa – Vũng Tàu hằng năm thu hàng tỷ đồng nhờ cây đu đủ nhờ mạnh dạn chuyển đổi giống mới, sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt giúp tăng năng suất, chất lượng cao…

    Trao đổi với chúng tôi, ông Vũ Đình Lương, Bí thư chi bộ ấp Trảng Lớn cho biết: “Anh Ngự là một nông dân rất cần cù chịu khó, năng động, người đầu tiên ở xã mang giống đu đủ mới về trồng và ứng dụng hệ thống tưới nhỏ giọt. Đây là một mô hình rất mới, chúng tôi cũng đang khuyến khích nhân rộng ở địa phương”.

    Anh Ngự cho biết, quê anh ở Quảng Nam vào lập nghiệp. Lúc mới vào gia đình anh trồng bắp, củ mì, rồi lên Gia Lai mua đất trồng cà phê, làm được mấy năm do giá cả thất thường không ổn định dẫn tới thất bại. Làm hoài, kinh tế gia đình vẫn khó khăn, cái túng, cái thiếu vẫn đeo bám quanh năm.

    Năm 2007, anh quay về xã Hắc Dịch thuê 5.000 m2 đất để trồng đu đủ. Lúc đầu anh trồng đu đủ thường, do thiếu kinh nghiệm, chưa có kỹ thuật, cây chết gần hết, còn lại một số cây èo ọt, năng suất rất thấp.

    Không nản chí, năm 2010 anh lặn lội về tỉnh Long An, đi tham quan ở huyện Đức Hòa, Đức Huệ, thấy người dân ở đây trồng đu đủ rất tốt, cây nào cây nấy quả ra từ gốc tới ngọn. Hỏi thăm mới biết họ đang trồng giống đu đủ ruột vàng (Da Bông) năng suất rất cao, anh liền lân la học hỏi kinh nghiệm và mua giống về trồng .

    Sau khi đi tham quan thực tế, được học hỏi kỹ thuật, anh đã mua giống về trồng kín 5.000 m2. Nhờ chịu khó cần cù, chăm sóc đúng kỹ thuật, cây đu đủ phát triển tốt. Cây mới cao 60 – 80 cm đã bắt đầu cho trái và đến ngày thứ 80 cũng là lúc cả vườn đu đủ chuyển sang màu vàng, báo hiệu vụ thu hoạch đầu tiên đã đến.

    Ngày thu hoạch, cả xóm tới xem, ai cũng giật mình bất ngờ vì từ trước tới giờ người dân chỉ quen trồng cây mì, cây bắp, thu nhập rất thấp. Nay người dân trong ấp được tận mắt nhìn thấy những cây đu đủ trái như xếp từ gốc lên tới ngọn.

    Bình quân mỗi cây có khoảng 70 – 150 trái. Vụ thu hoạch đu đủ năm ấy kết quả thu được ngoài sự mong đợi, vừa được mùa (90 tấn quả/5.000 m2), vừa trúng giá (7.000 – 14.000 đ/kg). Từ thành công ban đầu, anh đầu tư thêm diện tích, vừa mua, vừa thuê được 4 ha đất chuyên canh cây đu đủ.

    Anh Ngự tâm sự: “Bản thân tôi là người trực tiếp trồng cây đu đủ cũng bất ngờ, huống chi người khác. Thấy được hiệu quả từ giống đu đủ này, nhiều người tới tham quan và hỏi mua giống. Thế là tôi trở thành “bà đỡ” đu đủ bất đắc dĩ!”.

    Để chủ động cung cấp giống cho bà con và trang trại của gia đình, anh đã tự mày mò nghiên cứu, nhân giống bằng phương pháp gieo hạt. Có thể nhân giống bằng 2 cách: Sau khi thu hoạch trái vụ thứ nhất, có thể biết cây nào phát triển tốt, sai trái, mẫu mã đẹp. Cây bắt đầu ra bông đợt thứ 2, bông chuẩn bị nở thì tiến hành bao bông (ngăn ngừa thụ phấn chéo).

    Nhân giống theo cách này, chất lượng cây giống rất khỏe và có tính năng như cây mẹ, khi nào đậu trái non thì mở ra và đánh dấu những trái đó, chờ chín sẽ bổ ra lấy hạt để ương. 
    Cách thứ 2, chọn trực tiếp trái chín ở những cây khỏe mạnh, sai trái, trái nằm giữa thân cây, bổ ra lấy hạt cho vào chậu nước, hạt nào nổi lên vớt bỏ, lấy hạt chìm rồi mang ươm vào bịch. Cây mọc khoảng 10 – 12 cm là mang ra trồng hoặc xuất bán được.

    Anh Ngự cho hay, đặc điểm của giống đu đủ này khi chín ruột vàng, có vị ngọt đậm đà, ăn vừa giòn, vừa dai. Trái thon dài, trọng lượng trung bình từ 2 – 2,5 kg, chăm sóc tốt được 3kg/trái. Thời gian thu hoạch, từ khi trồng tới thu hoạch là 80 ngày (rút ngắn thời gian trồng so với các loại cây đu đủ khác từ 15 – 30 ngày), cây trồng được 2 năm phá bỏ, trồng xen canh các loại cây khác, sau đó trồng đu đủ lại.

    Song song với việc hoàn thiện quy trình trồng, chăm sóc và nhân giống cây đu đủ, anh Ngự còn trú trọng ứng dụng hệ thống tưới nhỏ giọt nhằm tiết kiệm điện, nước. Đặc biệt là ngày công lao động, tăng hiệu quả kinh tế.

    Hiện mỗi ngày gia đình anh thu hoạch từ 5 – 6 tấn trái (một xe tải) cung cấp cho tỉnh Đồng Nai và chợ đầu mối TPHCM. Ngoài ra còn SX 70 – 80 thiên cây đu đủ giống ( mỗi thiên 1.000 cây) với giá bán 4.000 đ/cây. Chủ yếu bán giống cho tỉnh Đồng Nai, Phan Thiết, Bình Thuận…


    BÁO NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

    Read More
    11 Th10

    Nhà Bè Agri triển khai ứng dụng phần mềm Nelson Overlap

    Post By: NhaBeAgri 4 Comments Phần mềm overlap, tính toán khả năng tưới đều, Tính toán lưu lượng nước tưới

    Ứng dụng phần mềm Overlap tại Nhà Bè Agri
    Tính toán lượng nước tưới và độ đồng đều

    Nelson Overlap là phần mềm riêng biệt được Nelson thuê viết nhằm hỗ trợ cán bộ kỹ thuật của tập đoàn tính toán nhanh chóng và chính xác khả năng tưới đồng đều của mỗi dự án tưới tự động.

    Với khả năng tính toán rất nhanh và chính xác cùng nhiều giả thuyết, dữ liệu đầu vào phần mềm giả định sẽ cho ra các kết quả dưới dạng báo cáo bảng biểu, sơ đồ, mô hình 3D, bản vẽ kỹ thuật trong rất nhiều điều kiện khác nhau.

    Các điều kiện dữ liều đầu vào gồm: thiết bị đầu tưới (Model, Cỡ họng, loại đĩa tưới); khoảng cách các hàng ống; khoảng cách các đầu tưới; áp suất nước; điều kiện gió (có hoặc không, tốc độ bao nhiêu, hướng gió); chiều cao của cọc đầu tưới; mô hình xếp đầu tưới (tam giác, hình vuông, đi dọc biên; số hàng tưới; cách bố trí luốn – hàng cây…

    Đầu ra sẽ trả lại kết quả như: tỉ lệ % tưới phủ lên nhau (phần tưới của đầu tưới này phủ lên phần tưới các đầu tưới liền kề); mức độ % đồng đều phân phối nước; lưu lượng nước (mm/giờ); tổng lưu lượng 1 giờ cho mỗi héc ta; diện tích mỗi đầu tưới có thể tưới phủ; lưu lượng nước thấp nhất – lưu lượng nước cao nhất…

    Các dạng báo cáo:
    – Báo cáo mô hình 3D
    – Báo cáo dưới dạng bảng dữ liệu
    – Báo cáo dưới dạng đồ thị
    – Báo cáo tại từng vị trí, từng điểm
    – Báo cáo phân phối khoảng màu
    – …

    Với việc ứng dụng phần mềm, công việc thiết kế và phân tích lựa chọn thiết bị tưới đã trở lên rất nhanh chóng – chính xác và hiệu quả.

    Đồng thời với mô hình này, bà con có thể hình dung ra hiệu quả như độ đồng đều, lưu lượng nước của từng dòng thiết bị, và từng vị trí – khoảng cách đặt béc.

    Sau phần mềm Overlap, Nhà Bè Agri sẽ tham gia tiếp chương trình đào tạo ứng dụng Phần mềm phân tích đầu tưới Rotator® cũng do Nelson triển khai nhằm hỗ trợ tích cực hơn nữa các dự án Nhà Bè Agri triển khai.

    Phần mềm đặc biệt có giá trị ứng dụng với những loại cây trồng yêu cầu khắt khe về lưu lượng nước và độ đồng đều như tưới vườn hoa lan…

    Read More

    Nhà Bè Agri triển khai ứng dụng phần mềm Nelson Overlap

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments tính lượng nước tưới cho cây trồng, tính độ phủ đều của nước tưới
    Phần mềm Overlap tính toán độ tưới đều
    Phần mềm tính toán độ tưới đồng đều của hệ thống tưới tự động

    Nelson Overlap là phần mềm riêng biệt được Nelson thuê viết nhằm hỗ trợ cán bộ kỹ thuật của tập đoàn tính toán nhanh chóng và chính xác khả năng tưới đồng đều của mỗi dự án tưới tự động.

     

    Với khả năng tính toán rất nhanh và chính xác cùng nhiều giả thuyết, dữ liệu đầu vào phần mềm giả định sẽ cho ra các kết quả dưới dạng báo cáo bảng biểu, sơ đồ, mô hình 3D, bản vẽ kỹ thuật trong rất nhiều điều kiện khác nhau.

    Các điều kiện dữ liều đầu vào gồm: thiết bị đầu tưới (Model, Cỡ họng, loại đĩa tưới); khoảng cách các hàng ống; khoảng cách các đầu tưới; áp suất nước; điều kiện gió (có hoặc không, tốc độ bao nhiêu, hướng gió); chiều cao của cọc đầu tưới; mô hình xếp đầu tưới (tam giác, hình vuông, đi dọc biên; số hàng tưới; cách bố trí luốn – hàng cây…

    Đầu ra sẽ trả lại kết quả như: tỉ lệ % tưới phủ lên nhau (phần tưới của đầu tưới này phủ lên phần tưới các đầu tưới liền kề); mức độ % đồng đều phân phối nước; lưu lượng nước (mm/giờ); tổng lưu lượng 1 giờ cho mỗi héc ta; diện tích mỗi đầu tưới có thể tưới phủ; lưu lượng nước thấp nhất – lưu lượng nước cao nhất…

    Các dạng báo cáo:
    – Báo cáo mô hình 3D
    – Báo cáo dưới dạng bảng dữ liệu
    – Báo cáo dưới dạng đồ thị
    – Báo cáo tại từng vị trí, từng điểm
    – Báo cáo phân phối khoảng màu
    – …

    Với việc ứng dụng phần mềm, công việc thiết kế và phân tích lựa chọn thiết bị tưới đã trở lên rất nhanh chóng – chính xác và hiệu quả.

    Đồng thời với mô hình này, bà con có thể hình dung ra hiệu quả như độ đồng đều, lưu lượng nước của từng dòng thiết bị, và từng vị trí – khoảng cách đặt béc.

    Sau phần mềm Overlap, Nhà Bè Agri sẽ tham gia tiếp chương trình đào tạo ứng dụng Phần mềm phân tích đầu tưới Rotator® cũng do Nelson triển khai nhằm hỗ trợ tích cực hơn nữa các dự án Nhà Bè Agri triển khai.

    Phần mềm đặc biệt có giá trị ứng dụng với những loại cây trồng yêu cầu khắt khe về lưu lượng nước và độ đồng đều như tưới vườn hoa lan…

    Read More
    10 Th10

    Quy Hoạch Phát Triển Cây Trôm

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments
    Nguồn: Báo Bình Thuận, 09/10/2013
    Ngày đăng tin: 10/10/2013

    Đến nay, mặc dù ngành nông nghiệp tỉnh Bình Thuận vẫn chưa thống kê chính xác được diện tích cây trôm hiện có của Bình Thuận, nhưng riêng ở huyện Tuy Phong, trôm được coi là loại cây thế mạnh, đang được địa phương quy hoạch phát triển diện tích và tìm nguồn tiêu thụ ổn định…

    cay trom

    Diện tích cây trôm đang dần được mở rộng tại Tuy Phong.

    Trôm… phủ xanh đồi trọc

    Theo Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tuy Phong, đến nay toàn huyện có trên 337 ha cây trôm, do 326 hộ trồng. Trong đó, tập trung chủ yếu ở xã Vĩnh Hảo 287,64 ha/238 hộ, Vĩnh Tân: 47,49 ha/83 hộ và Phong Phú khoảng 2 ha.

    Một trong những hộ đầu tiên đầu tư trồng cây trôm ở Vĩnh Hảo là gia đình anh Trịnh Toàn ở xóm 1A, thôn Vĩnh Sơn, xã Vĩnh Hảo. Anh Toàn cho biết, gia đình anh bắt đầu trồng thử 2 ha trôm với mật độ 1.000 cây/ha, vốn đầu tư ban đầu khoảng 20 triệu đồng/ha. Với nền đất ở khu vực Nha Lư đầy sỏi đá, không phải chăm sóc gì nhiều, nhưng trôm vẫn phát triển tốt. Đến năm thứ ba, thứ tư, trôm bắt đầu cho thu hoạch mủ.

    Tiếp tục đầu tư mở rộng diện tích, đến nay gia đình anh Toàn đã có gần 50 ha trôm, trong đó có gần 30 ha đã cho mủ. Từ mô hình thực tiễn này, nhiều hộ xung quanh bắt đầu phát triển và mở rộng diện tích cây trôm ra các vùng khác.

    Theo một số nông dân trên địa bàn, cây trôm có thể cho thu nhập 24 triệu đồng/ha/năm. Đây là mức thu nhập khá cao so với các loại cây trồng khác trên cùng loại đất không chủ động nước tưới. Qua đó, giúp nhiều hộ dân thoát nghèo và nâng cao thu nhập. Mặt khác, góp phần giải quyết việc làm cho lao động tại địa phương.

    Nhất là những công việc như đục lỗ, lấy mủ hàng ngày, khử tạp chất trong mủ… rất phù hợp với lao động nữ. Ngoài ra, loại cây này còn làm tăng độ che phủ rừng; tận dụng được những diện tích đất đồi, gò bị bỏ hoang trước đây do không chủ động nước tưới tại Vĩnh Hảo, Vĩnh Tân như vùng Gò Sạn, Láng Lớn, Rẫy Cọc…

    Tìm hướng phát triển

    Hiện ở Tuy Phong có một cơ sở thu mua và chế biến sản phẩm mủ trôm là Công ty TNHH mủ trôm Liên Hảo. Đây là doanh nghiệp chuyên chế biến mủ trôm khô, đóng gói thành phẩm dùng làm nước giải khát. Ngoài ra còn có trên 30 hộ chuyên thu mua sản phẩm mủ trôm để tiêu thụ trong và ngoài tỉnh. Được biết, hiện giá mủ trôm tươi trên địa bàn có giá từ 50 – 80 ngàn đồng/kg; mủ trôm khô có giá từ 120 ngàn đến 180 ngàn đồng/kg (tùy loại).

    Ông Nguyễn Trung Thông – Phó trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tuy Phong cho biết: “Để tiếp tục đưa cây trôm trở thành cây trồng lợi thế tại địa phương, huyện đang tập trung xây dựng quy hoạch phát triển loại cây này.

    Trước mắt, chú trọng mở rộng diện tích ở những vùng đất có nguồn nước tưới bổ sung, nhưng là đất sỏi không trồng được các cây trồng khác. Đặc biệt huyện không khuyến khích nông dân trồng cây trôm ở những diện tích cây lúa, cây màu có giá trị kinh tế cao. Nếu trồng để khai thác mủ thì phải có hệ thống tưới bổ sung như đào ao, giếng, suối.

    Ngược lại trên những vùng không có hệ thống tưới bổ sung trong mùa nắng thì cũng có thể trồng cây trôm với mục đích phủ xanh đất trồng và trồng lấy gỗ; có thể sản xuất theo mô hình nông lâm kết hợp như chăn nuôi bò, dê dưới tán cây…”

    Mặt khác, ngành nông nghiệp huyện cũng tiếp tục xây dựng quy trình kỹ thuật trồng, khai thác hợp lý. Cụ thể, trên cơ sở kỹ thuật bà con hiện đang sản xuất, sẽ điều chỉnh lại một vài công đoạn như mật độ cây trồng, kỹ thuật bón phân, làm cỏ, tưới nước để đưa ra quy trình sản xuất hợp lý nhất.

    Đồng thời, nghiên cứu cách bảo quản mủ trôm, nhất là cách bảo quản mủ trong mùa mưa để cân đối cung – cầu; hướng đến xây dựng thương hiệu và chỉ dẫn địa lý mủ trôm Tuy Phong, gắn với tăng cường quảng bá, đẩy mạnh tiêu thụ mủ trôm; từng bước đa dạng hóa sản phẩm từ cây trôm, mủ trôm.

    Đến nay, mặc dù ngành nông nghiệp tỉnh Bình Thuận vẫn chưa thống kê chính xác được diện tích cây trôm hiện có của Bình Thuận, nhưng riêng ở huyện Tuy Phong, trôm được coi là loại cây thế mạnh, đang được địa phương quy hoạch phát triển diện tích và tìm nguồn tiêu thụ ổn định…

    Trôm… phủ xanh đồi trọc

    Theo Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tuy Phong, đến nay toàn huyện có trên 337 ha cây trôm, do 326 hộ trồng. Trong đó, tập trung chủ yếu ở xã Vĩnh Hảo 287,64 ha/238 hộ, Vĩnh Tân: 47,49 ha/83 hộ và Phong Phú khoảng 2 ha. Một trong những hộ đầu tiên đầu tư trồng cây trôm ở Vĩnh Hảo là gia đình anh Trịnh Toàn ở xóm 1A, thôn Vĩnh Sơn, xã Vĩnh Hảo. Anh Toàn cho biết, gia đình anh bắt đầu trồng thử 2 ha trôm với mật độ 1.000 cây/ha, vốn đầu tư ban đầu khoảng 20 triệu đồng/ha.

    Với nền đất ở khu vực Nha Lư đầy sỏi đá, không phải chăm sóc gì nhiều, nhưng trôm vẫn phát triển tốt. Đến năm thứ ba, thứ tư, trôm bắt đầu cho thu hoạch mủ. Tiếp tục đầu tư mở rộng diện tích, đến nay gia đình anh Toàn đã có gần 50 ha trôm, trong đó có gần 30 ha đã cho mủ. Từ mô hình thực tiễn này, nhiều hộ xung quanh bắt đầu phát triển và mở rộng diện tích cây trôm ra các vùng khác.

    Theo một số nông dân trên địa bàn, cây trôm có thể cho thu nhập 24 triệu đồng/ha/năm. Đây là mức thu nhập khá cao so với các loại cây trồng khác trên cùng loại đất không chủ động nước tưới. Qua đó, giúp nhiều hộ dân thoát nghèo và nâng cao thu nhập. Mặt khác, góp phần giải quyết việc làm cho lao động tại địa phương. Nhất là những công việc như đục lỗ, lấy mủ hàng ngày, khử tạp chất trong mủ… rất phù hợp với lao động nữ. Ngoài ra, loại cây này còn làm tăng độ che phủ rừng; tận dụng được những diện tích đất đồi, gò bị bỏ hoang trước đây do không chủ động nước tưới tại Vĩnh Hảo, Vĩnh Tân như vùng Gò Sạn, Láng Lớn, Rẫy Cọc…

    Tìm hướng phát triển

    Hiện ở Tuy Phong có một cơ sở thu mua và chế biến sản phẩm mủ trôm là Công ty TNHH mủ trôm Liên Hảo. Đây là doanh nghiệp chuyên chế biến mủ trôm khô, đóng gói thành phẩm dùng làm nước giải khát. Ngoài ra còn có trên 30 hộ chuyên thu mua sản phẩm mủ trôm để tiêu thụ trong và ngoài tỉnh. Được biết, hiện giá mủ trôm tươi trên địa bàn có giá từ 50 – 80 ngàn đồng/kg; mủ trôm khô có giá từ 120 ngàn đến 180 ngàn đồng/kg (tùy loại).

    Ông Nguyễn Trung Thông – Phó trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tuy Phong cho biết: “Để tiếp tục đưa cây trôm trở thành cây trồng lợi thế tại địa phương, huyện đang tập trung xây dựng quy hoạch phát triển loại cây này. Trước mắt, chú trọng mở rộng diện tích ở những vùng đất có nguồn nước tưới bổ sung, nhưng là đất sỏi không trồng được các cây trồng khác.

    Đặc biệt huyện không khuyến khích nông dân trồng cây trôm ở những diện tích cây lúa, cây màu có giá trị kinh tế cao. Nếu trồng để khai thác mủ thì phải có hệ thống tưới bổ sung như đào ao, giếng, suối. Ngược lại trên những vùng không có hệ thống tưới bổ sung trong mùa nắng thì cũng có thể trồng cây trôm với mục đích phủ xanh đất trồng và trồng lấy gỗ; có thể sản xuất theo mô hình nông lâm kết hợp như chăn nuôi bò, dê dưới tán cây…”

    Mặt khác, ngành nông nghiệp huyện cũng tiếp tục xây dựng quy trình kỹ thuật trồng, khai thác hợp lý. Cụ thể, trên cơ sở kỹ thuật bà con hiện đang sản xuất, sẽ điều chỉnh lại một vài công đoạn như mật độ cây trồng, kỹ thuật bón phân, làm cỏ, tưới nước để đưa ra quy trình sản xuất hợp lý nhất.

    Đồng thời, nghiên cứu cách bảo quản mủ trôm, nhất là cách bảo quản mủ trong mùa mưa để cân đối cung – cầu; hướng đến xây dựng thương hiệu và chỉ dẫn địa lý mủ trôm Tuy Phong, gắn với tăng cường quảng bá, đẩy mạnh tiêu thụ mủ trôm; từng bước đa dạng hóa sản phẩm từ cây trôm, mủ trôm.


    Nông nghiệp và Thuỷ sản Việt Nam – Vietnam Agriculture and Aquaculture

    Read More

    Vị đắng trong mùa thu hoạch mía

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments

    Đồng bằng sông Cửu Long

    Vị đắng trong mùa thu hoạch mía

    SGTT.VN – Trước khi vào vụ ép mía niên vụ 2013 – 2014, các nhà máy đường đã thoả thuận giá mua mía 10 chữ đường (CCS) tại vùng mía Phụng Hiệp (Hậu Giang) là 850 đồng/kg và mức tăng, hoặc giảm cho 1 CCS tương đương 7 đồng/kg. Ngoài ra, để đảm bảo hiệu quả sản xuất, các nhà máy đường trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) cũng thống nhất không thu mua mía nguyện liệu có hàm lượng đường dưới 7 CCS.

    Nông dân tỉnh Hậu Giang tranh thủ thu hoạch mía trước khi lũ về.

    Vùng nguyên liệu mía Phụng Hiệp là nơi thu hoạch mía sớm nhất khu vực ĐBSCL, những năm lũ về sớm, nông dân phải đốn cả mía non để chạy lũ. Hiện nay, tại Phụng Hiệp, các giống mía chín sớm có giá mua khoảng 800 – 850 đồng/kg (mía có 8 – 10 CCS), trong khi đó, các giống mía chín muộn, hiện chỉ khoảng dưới 6 CCS, hoặc 7 CCS. Với các loại mía này, các nhà máy dù đã thoả thuận trước, nhưng khi nông dân thu hoạch, nhà máy buộc phải mua hỗ trợ cho nông dân với giá 500 – 600 đồng/kg.

    Ông Trần Ngọc Điển, người trồng mía ở xã Hoà An (huyện Phụng Hiệp) so sánh: “Giá mía năm nay thấp hơn vụ năm ngoái khoảng 200 đồng/kg, nên rất ít người kiếm được lời”. Trong khi đó, theo ông Lê Văn Chí, chủ tịch UBND xã Phụng Hiệp (huyện Phụng Hiệp), những người thu hoạch mía càng muộn, càng bị lỗ vì trước áp lực nước lũ về, giá nhân công tăng, tổn thất năng suất mía cũng tăng. Do vậy, khi nông dân chấp nhận bị lỗ vụ mía để kịp sạ lại vụ lúa, thì nhà máy đường phải gánh thêm một phần chi phí sản xuất do phải ép mía non. Nhà máy đường gặp khó, thương lái thu mua mía càng phập phồng, ông Nguyễn Văn Ân, lái buôn mía ở Phụng Hiệp than: “Mùa này, đi mua mía có nhiều may rủi, nếu mía đưa về tới nhà máy mà đo đủ 10 CCS, thì mới đủ tiền ghe, còn bị lỗ nặng hay nhẹ thì tuỳ chữ đường rớt nhiều hay ít”.

    Mấy năm gần đây, cây mía được cho là loại cây trồng đạt hiệu quả thấp so với một số cây trồng khác. Ở huyện Trà Cú (Trà Vinh), mặc dù có lợi thế mía lưu gốc, nhưng không ít nông dân đã phá bỏ mía để chuyển sang mô hình sản xuất khác. Do trồng mía không lời, nên tính đến cuối tháng 9.2013, tỉnh Trà Vinh đã có hơn 360ha ao nuôi thuỷ sản (cá tra, cá lóc) nước ngọt, mà phần lớn là mô hình sản xuất vừa được chuyển đổi sang từ cây mía.

    Hậu Giang là tỉnh có vùng nguyên liệu mía lớn nhất khu vực ĐBSCL. Qua nhiều năm thăng trầm với cây mía, nhiều nông dân Hậu Giang đã không còn mặn mà với cây mía. Niên vụ mía năm nay, tỉnh Hậu Giang chỉ trồng khoảng 14.000ha mía, giảm gần 190ha so năm trước. Theo kế hoạch, Hậu Giang sẽ cố gắng duy trì khoảng 10.000ha mía nguyên liệu phục vụ cho ba nhà máy đường trên địa bàn. Tuy nhiên, mối lo lớn nhất của các nhà máy là nếu mua mía giá cao, đảm bảo có lời cho nông dân, thì doanh nghiệp sẽ khó tồn tại, bởi mức giá chênh lệch hiện nay giữa đường nhập lậu từ biên giới Tây Nam và đường sản xuất trong nước đã cao hơn 1.000 đồng/kg.

    bài và ảnh: Ngọc Tùng


    Kinh tế – BÁO SÀI GÒN TIẾP THỊ

    Read More

    Đồng bào Cơ Tu thoát nghèo nhờ trồng tre lấy măng

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments Trồng tre lấy măng thoát nghèo
    Ông Lê Văn Hai- cán bộ kỹ thuật Trung tâm Khuyến ngư nông lâm TP.Đà Nẵng cho biết: Năm 2010, thực hiện “Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020”, trung tâm đã hỗ trợ 100% cây giống, phân bón để nhân rộng mô hình trồng tre măng Điền Trúc ở 2 thôn Tà Lang và Dàn Bí (xã Hoà Bắc) lên 4,2ha. Đây là 2 thôn nghèo có nhiều đồng bào dân tộc Cơ Tu sinh sống. Đến nay, đã có hơn 60 hộ đồng bào dân tộc Cơ Tu ở 2 thôn trên trồng tre măng Điền Trúc, trung bình mỗi hộ trồng từ vài sào tới hơn 1ha. Nhờ tre măng Điền Trúc, cuộc sống đồng bào được cải thiện đáng kể. Anh Nguyễn Cửu Phi ở thôn Tà Lang cho biết: Năm 2010, gia đình anh chỉ trồng 30 gốc thử nghiệm, qua hơn 2 năm thấy hiệu quả nên trồng thêm 270 gốc. Sau thời gian chăm sóc, tre măng phát triển tốt với trên 85% số gốc đã ra măng và phát triển thành 1-3 cây tre.

    Dẫn chúng tôi đi thăm vườn tre măng của mình, anh Đỗ Tiến cũng ở thôn Tà Lang, thổ lộ: “Năm 2003, tôi trồng 70 gốc thử nghiệm, tới năm 2007 trồng thêm 80 gốc, còn hiện nay vườn măng đã lên tới 400 gốc, mỗi năm thu hoạch khoảng 16 – 24 tấn măng/năm. Với giá bán 4.000 – 8.000 đồng/kg, anh thu về 64 – 190 triệu đồng/năm”. Theo anh Tiến, trồng măng rất dễ bán vì nguồn cung luôn thiếu so với nhu cầu thị trường, lại được tư thương tới tận nơi thu mua, nếu ra trái mùa thì giá bán cao hơn từ 8.000 – 10.000 đồng/kg.

    Ông Đỗ Viết Vy- Chủ tịch Hội ND xã Hòa Bắc, cho biết: “Đồng bào Cơ Tu vui mừng, phấn khởi khi cây tre măng Điền Trúc có giá trị kinh tế cao góp phần giảm nghèo, trồng một lần cho thu hoạch nhiều lần, được tiêu thụ thuận lợi tại thị trường Quảng Nam, Đà Nẵng”.


    Nông thôn mới – RSS Feed

    Read More
    09 Th10

    Mô Hình Nuôi Trâu Murrah Ấn Độ Đạt Hiệu Quả Kinh Tế Cao

    Post By: NhaBeAgri 0 Comments đất, Độ
    Nguồn: Báo Thanh Hóa, 07/10/2013
    Ngày đăng tin: 09/10/2013

    Được sự hỗ trợ của Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng khoa học – kỹ thuật (KHKT) chăn nuôi tỉnh Thanh Hóa, từ năm 2008 đến nay, nhiều hộ gia đình ở các địa phương trong tỉnh đã đầu tư phát triển mô hình nuôi trâu Murrah Ấn Độ lấy thịt đạt hiệu quả cao.

    nuoi trau

    Vợ anh Thảo đang hướng dẫn cách chăm sóc gà.

    Murrah là giống trâu Ấn Độ có trọng lượng thịt cao hơn so với giống trâu bản địa từ 50 đến 70 kg/con. Hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 4 huyện, thị xã là: Bỉm Sơn, Như Thanh, Như Xuân và Thạch Thành với hơn 200 hộ dân tham gia chương trình này. Các hộ tham gia chương trình được hỗ trợ 100% tiền công chăm sóc, công thụ tinh nhân tạo, các vật tư truyền giống và được bảo đảm “đầu ra” cho sản phẩm theo chương trình nâng cao tầm vóc đàn trâu theo định hướng chỉ đạo của UBND tỉnh.

    Theo hạch toán của các hộ chăn nuôi, trâu Murrah Ấn Độ chủ yếu ăn các loại thức ăn thô từ phụ phẩm của ngành trồng trọt như: rơm, cỏ, thân lá đậu tương, khoai lang và ngô. Sau 1 năm chăn nuôi, khi xuất chuồng, mỗi con trâu thịt giống Murrah sẽ cho thu lãi từ 20 đến 25 triệu đồng.

    Để thúc đẩy phát triển các mô hình chăn nuôi trâu thịt Murrah, thời gian tới, Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng KHKT chăn nuôi tỉnh sẽ tiếp tục triển khai đề tài “Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật về nâng cao khả năng sinh sản và sản xuất của trâu” tại Thanh Hóa, nhằm nâng cao thu nhập cho nông dân.

    Read More
    • Prev
    • 1
    • 2
    • …
    • 25
    • 26
    • 27
    • 28
    • 29
    • …
    • 42
    • 43
    • Next

    VẬN CHUYỂN

    Toàn quốc

    KHUYẾN MẠI

    & Quà tặng

    LIÊN HỆ

    0917 367 763

    UY TÍN

    & Chất lượng

    Cửa hàng

    • Hướng dẫn lắp đặt
    • Hỏi đáp
    • Ứng dụng mô hình tưới
    • Tin nông nghiệp
    • Tuyển dụng
    • Catalogue
    • Tin Nông Nghiệp
    • Ứng Dụng Mô Hình Tưới
    • Tuyển dụng
    • Tưới nông nghiệp
    • Thư viện
    • Giới thiệu

    Thông tin

    • Giới thiệu
    • Tin tức
    • Đội ngũ nhân viên
    • Làm đại lý phân phối
    • Chúng tôi đại diện cho
    • Liên hệ

    Hỗ trợ

    • Giao nhận hàng hóa
    • Thanh toán
    • Hướng dẫn mua hàng
    • Trả & đổi hàng
    • Chính sách bảo hành
    • Chính sách bảo mật thông tin

    Tài khoản

    • Giới thiệu
    • Video
    • Liên hệ
    • Tưới phun mưa
    • Tưới nhỏ giọt
    • Tưới cảnh quan
    • Tưới phun sương

    LIÊN HỆ MINH VŨ CO., LTD

    • 85. Nguỵ Như Kon Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
    • Email : minhvu1014@gmail.com
    • Điện thoại : 04 322 168 01

    CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG MINH VŨ

    © 2013-2017 All Rights Reversed.

    Close
    Sign in Or Register
    Forgot your password?

    NEW HERE?

    Registration is free and easy!

    • Faster checkout
    • Save multiple shipping addresses
    • View and track orders and more
    Create an account
    X
    • Menu
    • Categories
    • Trang chủ
    • Cửa hàng
      • Tài khoản
        • Cập nhật tài khoản
        • Cập nhật địa chỉ
        • Xem đơn hàng
        • Quên mật khẩu
      • Thanh toán
    • Tưới nông nghiệp
      • Hướng dẫn lắp đặt
      • Tư vấn chọn thiết bị tưới
      • Ứng dụng mô hình tưới
      • Tin nông nghiệp
      • Câu hỏi thường gặp
    • Thư viện
      • Video
      • Catalogue
    • Liên hệ
    • Tưới phun mưa
      • Béc tưới Ducar
      • Đầu tưới Rivulis
      • Béc tưới Nelson USA
      • Xe tưới tự cuốn Irrifrance
      • Béc tưới Đài Loan
      • Dây tưới phun mưa
    • Tưới nhỏ giọt
      • Dây (ống) tưới nhỏ giọt
        • Tưới nhỏ giọt DiG
        • Rivulis Israel
        • Tưới nhỏ giọt Seowon
      • Đầu tưới nhỏ giọt
      • Ống PE
      • Thiết bị lọc
      • Thiết bị châm phân
      • Phụ kiện ống PE
        • Phụ kiện ống 6mm
        • Phụ kiện ống 12mm
        • Phụ kiện ống 16mm
        • Phụ kiện ống 17mm
        • Phụ kiện ống 20mm
        • Phụ kiện ống 25mm
      • Phụ kiện tưới nhỏ giọt khác
    • Tưới cảnh quan
      • DIG USA
      • Cellfast
      • Hunter USA
    • Tưới phun sương
    • Van điện tử, bộ hẹn giờ
    • Ống nước – phụ kiện
    • Bơm nông nghiệp