| |||||
| |||||
Đậu nành là cây thực phẩm có giá trị rất lớn về nhiều mặt, nhất là về giá trị dinh dưỡng. Đạm là chất quan trọng nhất trong thành phần hóa học của đậu nành. Đạm trong đậu nành chứa tới 18 loại acid amin cần thiết cho cơ thể với các tỷ lệ gần giống như ở đạm động vật , do đó có thể thay thế đạm động vật trong bữa ăn hàng ngày. Ngoài đạm ra, đậu nành còn chứa một lượng chất béo rất cao, nhiều sinh tố và muối khoáng cần thiết cho cơ thể con người. Theo kết quả phân tích của các cơ quan y tế thì trong 100 g đậu nành có 37,6 g protein , 27 g đường , 16,5 g chất béo , 244 mg Ca , 6,8 mg Fe , 0,89 mg sinh tố B1 và sinh tố PP là 1,2 mg.
Tập quán trồng đậu nành của bà con nông dân ở ĐBSCL đã có từ lâu đời , nhưng trước đây chỉ giới hạn ở chân đất rẫy. Kỹ thuật trồng đậu nành trên đất rẫy cũng khác hẳn cách trồng trên đất trồng lúa . Một vài năm gần đây do hiệu quả kinh tế của việc trồng lúa vụ xuân hè không cao nên nhiều hộ gia đình đã thay thế vụ lúa xuân hè bằng một vụ đậu nành. Phần lớn diện tích trồng lúa ở các huyện Lấp Vò, Lai Vung (Đồng Tháp), Chợ Mới (An Giang), P.Phước Thới (Q.Ô Môn, Cần Thơ) được thay thế bằng cây đậu nành trong vụ xuân hè. Trong điều kiện thường xảy ra thiếu nước vào mùa nắng và dịch bệnh trên lúa phát triển nhiều (rầy nâu, bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá) thì việc chuyển đổi từ trồng lúa sang các loại cây màu là hoàn toàn hợp lý. Kinh nghiệm trồng đậu nành trên chân đất lúa của nông dân ở Lấp Vò, Lai Vung, Chợ Mới, Phước Thới cũng thật là độc đáo, có thể tóm tắt như sau:
Chuẩn bị đồng ruộng: Sau khi thu hoạch lúa đông xuân (khoảng tháng 2-3 dương lịch), dọn sạch cỏ bờ bao và cắt gốc rạ theo hàng, bề ngang của hàng chỉ cần 15-20 cm. Cứ 5m đào một rãnh sâu 30 cm, rộng 20 cm để giúp cho việc tưới tràn và thoát nước khi mưa nhiều. Bơm nước lên ruộng cho ngập một ngày đủ để đất mềm rồi rút hết nước đi.
Gieo hạt: Sau khi rút hết nước không cần xới đất, rải hạt trên mặt đất (không chọc lỗ), mỗi hốc 2-3 hạt, khoảng cách hàng là 40 cm, khoảng cách bụi là 10 cm, lượng giống dùng từ 60-70 kg/ha. Sau khi gieo hạt dùng rơm phủ kín mặt ruộng. Việc phủ rơm không những giữ được đất ẩm lâu giảm được chi phí tưới nước mà còn khống chế sự xì phèn từ lớp đất dưới lên, hạn chế được sự phát triển của cỏ dại , giữ cho lớp đất mặt không bị nén sau khi tưới. Ngoài ra, sau vụ đậu nành lớp rơm rạ sẽ là nguồn phân hữu cơ quí giá cho vụ sau. Cũng có một số bà con nông dân dùng phương pháp sạ lan như sạ lúa hoặc dùng máy sạ đậu theo hàng. Làm theo phương pháp này thì cần phải phát hết gốc rạ trước khi sạ, sau đó phủ lại rơm. Trong trường hợp sạ lan thì mật độ cây thường phân bố không được đều, chăm sóc, làm cỏ, bón phân cũng khó khăn hơn
Giống: Hiện nông dân vùng này trồng chủ yếu là giống đậu MTĐ176, thời gian sinh trưởng khoàng 70-75 ngày, thời gian trổ bông 28-30 ngày sau khi trồng, tỷ lệ trái cho 3 hạt cao, trọng lượng 100 hạt từ 16-17 g, năng suất hạt từ 2,8-3,0 tấn/ha.
Tưới nước: Việc phủ rơm rạ đủ giữ được độ ẩm cho cây nảy mầm. Ở giai đoạn đầu cây còn nhỏ thì cần phải tưới bằng thùng hoặc tưới máy có gắn bông sen. Sau khi cây được 15-20 ngày tuổi là có thể tưới tràn. Khi tưới tràn người dân thường lợi dụng con nước lớn cho nước vào ngập cả đám ruộng, mực nước trên ruộng từ 2-3 cm. Sau khi cho nước ngập 1-2 giờ là phải rút hết nước ngay, cần phải khơi các rãnh thoát nước để nước rút hết ngay trong ngày. Để nước đọng sẽ làm cây kém sinh trưởng hoặc sẽ chết. Chú ý đến giai đoạn gần thu hoạch thường có mưa nhiều cũng phải thường xuyên đi khơi nước, tránh để nước tồn đọng trong ruộng sẽ làm hư trái.
Làm cỏ: Sau khi rải hạt giống, dùng thuốc trừ cỏ Dual 720 EC để phun diệt cỏ suốt vụ. Liều lượng sử dụng là 1,0-1,2 lít/ha (pha 50-60 ml thuốc cho bình 16 lít, phun 2 bình cho 1.000 m2). Sau khi phun thuốc thì phủ rơm kín lại. Đến giai đoạn 10-15 ngày sau khi gieo, nếu có nhiều lúa rày (lúa mọc từ hạt rụng xuống đất khi thu hoạch lúa đông xuân) thì dùng thuốc Onecide hoặc Nabu để diệt, các loại thuốc này diệt tốt các loài cỏ hòa thảo và lúa rày.
Bón phân: công thức phân bón cho đậu nành thích hợp là 60:40:30 kg NPK/ha (tương đương 100-110 kg urea , 200 -250 kg sufer lân , 60 kg KCl). Phân lân được bón lót toàn bộ. Đạm được bón làm 3 lần: lần 1 lúc 7 ngày sau gieo 30 %, lần 2 lúc 15 ngày sau gieo 50 % và lần cuối 20 % lúc 30 ngày sau gieo. Phân KCl được bón hai lần: lần một cùng với lần bón đạm thứ 2,bón 50 %; lần hai bón trước khi cây trổ bông 50 % phần còn lại. Ngoài các loại phân đa lượng chính trên nếu có điều kiện bón thêm vôi sẽ làm cho cây đậu tốt hơn, lượng dùng khoảng 300-350 kg/ha (bón lót cùng với phân lân).
Phòng trừ sâu bệnh: Sâu là loại dịch hại quan trọng nhất tác động đến năng suất và phẩm chất đậu nành. Đậu nành có nhiều loại sâu phá hoại như: giòi đục thân, sâu đục trái, sâu ăn tạp, sâu xanh, sâu bông, bọ xít, rầy xanh. Phòng trừ các loại sâu bằng cách thăm đồng thường xuyên, nhất là từ khi cây đậu nành trổ hoa, kết trái. Khi vừa thấy bướm sâu xuất hiện là tổ chức diệt ngay. Các loại thuốc được dùng như Basudin 50 ND, Viphensa 60 EC, Cyperan 25 EC. Ngoài biện pháp dùng thuốc hóa học thì có thể dùng biện pháp luân canh cây trồng để cắt đứt nguồn thức ăn của sâu khi áp lực sâu trên đồng ruộng quá mạnh. Các bệnh chính trên đậu nành: bệnh rỉ, bệnh đốm vằn, bệnh thối trái, bệnh đốm vi khuẩn, bệnh tím hạt. Phòng trị các loại bệnh này bằng các loại thuốc như Zineb 75 WP, Rovral, dung dịch Boocđô 1 %.
Thu hoạch: khi 80-85 % số trái đã chuyển sang màu xám hoặc đen là hạt đã chín già, có thể thu hoạch. Không nên để chín quá, trái đậu sẽ nổ làm thất thoát hạt. Trước khi thu hoạch 5-7 ngày dùng dung dịch nước muối (pha 2 kg muối hạt trong bình 16 lít và phun cho 500 m2) để làm rụng bớt lá đậu nành. Dùng phương pháp này đem lại nhiều lợi ích là đỡ được công thu hoạch, bốc vác, công phơi và phần lớn lá đậu nành rụng xuống đất đã để lại cho đất lượng phân hữu cơ rất lớn. Hiện nông dân trồng đậu dùng máy tuốt lúa để ra hạt đậu nành. Đậu sau khi thu về phơi cho khô hết toàn bộ cây, quả. Phơi càng khô thì tỷ lệ hạt ra theo vỏ càng thấp và hạt càng sạch.
Hiệu quả kinh tế của vụ đậu nành cao hơn nhiều so với trồng lúa, theo anh Nguyễn Đức Dũng ở Tám Trung (Lấp Vò, Đồng Tháp) và anh Huỳnh Trung Hiền ở quận Ô Môn, TP.Cần Thơ thì vụ đậu năm ngoái đa số bà con nông dân đều đạt năng suất từ 8-10 giạ/công (2,6-3,0 tấn/ha). Giá đậu nành thương phẩm bán được 15.000 đồng/kg. Thu nhập từ 3,5-4,0 triệu đồng/công, trừ chi phí mỗi công còn lãi trên 2 triệu đồng. Ngoài số lãi do bán đậu thì bà con nông dân còn đỡ được một đợt bón phân cho lúa hè thu sau đậu do lượng đạm, phân hữu cơ do thân lá đậu để lại cho đất rất lớn.
Trước tình hình hạn hán, thiếu nước nghiêm trọng và dịch bệnh do trồng nhiều vụ lúa liên tục thì việc chuyển đổi sang trồng các loại cây màu như đậu nành, bắp lai, mè hoặc một loại cây trồng ít tốn nước nào khác là điều cần thiết. Tùy theo điều kiện canh tác, tập quán, thị trường mà bà con nông dân có thể lựa chọn để đem lại lợi ích cho mình.
TT – Sau bốn năm đầu tư, Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Unifarm (xã An Thái, Phú Giáo, Bình Dương) đã phát triển nhiều sản phẩm đạt tiêu chuẩn toàn cầu (Global GAP) được xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Nhật Bản, Hàn Quốc…
Vừa băng qua khỏi rừng cao su, đập vào mắt chúng tôi là khu nhà kính lấp lánh dưới ánh mặt trời của Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Unifarm. Một rừng chuối xanh mướt thẳng tắp, với những buồng chuối được bọc kín trong bao nilông hiện ra giữa cánh đồng rộng mênh mông.
Làm nông nghiệp với chuyên gia nước ngoài
Giữa trưa, hệ thống tưới bắt đầu hoạt động. Từ các ống nhựa trải dọc theo những luống chuối, nước từ các lỗ nhỏ dọc ống phun ra bốn phía hắt lên trên thấm ướt đẫm thân chuối và vùng đất xung quanh gốc. Một công nhân tại đây cho biết hệ thống tưới tiêu ở khu nông nghiệp này đều được tự động hóa, nhưng mỗi loại cây trồng có một kiểu tưới khác nhau. Dưa lưới trồng trong nhà kính thì nước và phân bón được chuyển vào cây bằng hình thức tưới nhỏ giọt của Israel, cây có múi tưới dạng phun mưa, còn chuối thì tưới bằng hệ thống tưới ngược từ dưới đất lên. “Đây là công nghệ tưới của Đài Loan” – công nhân này cho biết.
Theo ông Phạm Quốc Liêm, tổng giám đốc Unifarm, không chỉ lắp các hệ thống tưới và bón phân tự động, mỗi loại cây trồng đều có các chuyên gia hàng đầu từ các nước được mời về triển khai và giám sát mọi công đoạn.
Chẳng hạn với loại chuối già xuất khẩu sang Hàn Quốc, công ty mời hai chuyên gia người Philippines (nước trồng chuối lớn trên thế giới) về làm ngay từ đầu và phụ trách đào tạo, chuyển giao công nghệ cho công nhân người Việt.
Ngày 19-12, lứa chuối đầu tiên của công ty đã được thu hoạch để xuất khẩu sang Hàn Quốc. Hai chuyên gia Philippines tất bật hết đi từ bể rửa lại đến chỗ sấy khô và đóng gói để hướng dẫn công nhân làm theo đúng chuẩn.
Cạnh đó, các vị khách hàng Hàn Quốc cũng đang kiểm tra các khâu trước khi đóng gói để đưa vào container lạnh và vận chuyển bằng tàu biển về Hàn Quốc.
Tại khu nhà kính rộng 1ha chuyên trồng dưa lưới, toàn bộ hệ thống nhà kính, thiết bị, hệ thống tưới đều nhập từ Israel, do một chuyên gia nước này vận hành.
“Chuyên gia này ở Isreael có trên 30ha trồng rau xuất khẩu sang châu Âu, có thừa kinh nghiệm thực tế, được chúng tôi mời về để đảm bảo mọi công đoạn đều làm đúng quy trình ngay từ đầu. Nhờ vậy, dưa lưới tại đây giữ được ba trái, thay vì một trái như những nơi khác nhưng trọng lượng và chất lượng vẫn đảm bảo” – ông Liêm nói.
Với hệ thống công nghệ cao cũng như sự kiểm soát của chuyên gia nên khu vực trồng dưa lưới đã đạt chứng nhận Global GAP. “Hiện chúng tôi đưa ra thị trường khoảng 200 tấn dưa lưới mỗi năm. Trong năm 2014 chúng tôi sẽ mở rộng thêm diện tích trồng dưa trong nhà lưới để đáp ứng nhu cầu của thị trường” – ông Liêm nói.
Nhập công nghệ từ Nhật Bản, Hàn Quốc
Trước năm 2008, UBND tỉnh Bình Dương đã có ý định thành lập các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao làm hạt nhân để phát triển ra các vùng lân cận với mục tiêu đạt hiệu quả cao trên diện tích nhỏ, do đất đai ngày càng bị thu hẹp. Sau khi tham khảo các mô hình của thế giới, UBND tỉnh Bình Dương quyết định kêu gọi doanh nghiệp tư nhân đầu tư.
Và trong số nhiều ứng cử viên đăng ký, Công ty U&I (công ty mẹ của Unifarm) đã được chọn làm chủ đầu tư Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại xã An Thái, huyện Phú Giáo khi khu nông nghiệp này được UBND tỉnh Bình Dương quyết định thành lập năm 2009. Sau khi nhận được giấy phép, Unifarm đã nhanh chóng nhập khẩu thiết bị, mời chuyên gia nước ngoài về làm việc và chính thức đi vào hoạt động từ năm 2010.
Với quy mô gần 412ha chia ra nhiều phân khu chức năng như khu nghiên cứu, khu sản xuất…, đến thời điểm hiện nay Unifarm đã lấp đầy được 36% diện tích, khoảng 140ha trong 380ha đất canh tác. Trong năm nay sẽ mở rộng, chỉ riêng chuối đã thêm 100ha. Không tiết lộ doanh thu của công ty nhưng theo ông Liêm, từng dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại khu này đều cho kết quả rất cao. Hiện công ty đang phát triển thêm một số loại cây nữa như cam, bưởi, quýt, chanh…
Theo ông Liêm, ngoài những sản phẩm tươi đưa ra thị trường nội địa và xuất khẩu, công ty sẽ đầu tư nhà máy chế biến tại khu vực này để tăng giá trị cho nông sản. Sau khi các mô hình sản xuất thành công và hoàn thiện, công ty sẽ chuyển giao kỹ thuật cho nông dân, đồng thời liên kết với người dân để phát triển vùng nguyên liệu bên ngoài.
Ngoài ra, doanh nghiệp này cho biết đang liên kết với đối tác nước ngoài để đầu tư, sản xuất như hợp tác với Hàn Quốc để trồng chuối rồi xuất khẩu sang chính thị trường này.
Công ty cũng đang làm việc với một đối tác đến từ Nhật để nghiên cứu các loại rau màu như đậu côve, cà tím bằng giống và công nghệ của Nhật để tìm ra loại cây trồng phù hợp cho việc đầu tư và xuất khẩu trở lại Nhật Bản.
“Dự kiến chúng tôi sẽ cùng đối tác Nhật Bản đầu tư một nhà máy làm giống cây trồng theo công nghệ Nhật tại VN. Như vậy, chúng tôi sẽ ứng dụng công nghệ cao trong toàn bộ chuỗi từ hạt giống, sản xuất, chế biến tại khu vực này” – ông Liêm nói.
Về đầu ra, theo ông Phạm Quốc Liêm, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm nông sản sạch của VN tại thị trường nội địa cũng như xuất khẩu rất lớn. Chẳng hạn với cây chuối, loại trái cây có nhu cầu cao nhất trong tất cả các loại trái cây, nguồn cung không đáp ứng đủ nhu cầu. Tại Philippines, quốc gia có diện tích trồng chuối lớn nhất thế giới, cây chuối đang có dấu hiệu thoái hóa nên khách hàng đang tìm kiếm nguồn cung từ các quốc gia khác, trong đó có VN.
TRẦN MẠNH
Giúp nông dân tiếp cận giống mới
Đà Lạt hiện có khoảng 30 cơ sở tạo giống bằng nuôi cấy mô, mỗi năm cung cấp cho thị trường 22 triệu cây giống. Lập phòng nhân giống cấy mô là cách nông dân tự cứu mình thay vì chờ nguồn giống tốt từ các viện nghiên cứu trong nước. Ông Trương Đức Phú, giám đốc Công ty giống PH Biotech (P.11, Đà Lạt), chủ của phòng ươm giống trong ống nghiệm lớn nhất nhì Đà Lạt, cho biết đã nhiều lần bỏ tiền đi Hà Lan và các nước châu Á học hỏi để sản xuất giống. Tuy nhiên, sản phẩm trồng ra không thể xuất khẩu do giống không có bản quyền.
Với hàng chục năm kinh nghiệm trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, ThS Siebe Van Wijk (Hà Lan), giám đốc Công ty Fresh Studio, cho rằng giống thật sự là vấn đề với nông dân không chỉ ở Đà Lạt, Nhà nước phải có các chính sách kéo các công ty sinh học uy tín trên thế giới vào VN, giúp nông dân VN tiếp cận những giống mới. “Hà Lan khởi điểm nông nghiệp công nghệ cao cũng không thuận lợi hơn VN, nhưng chúng tôi đã giải quyết ngay từ đầu khâu giống bằng nhiều cách. Ngoài việc hỗ trợ các công ty giống, chính phủ cũng đưa ra nhiều chính sách giúp nông dân tiếp cận các công ty công nghệ sinh học, giúp họ hiểu nhau và hợp tác sản xuất giống theo đúng nhu cầu” – ông Siebe Van Wijk nói.
Ông Nguyễn Trúc Bồng Sơn, giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lâm Đồng, cho rằng chỉ khoảng 20% giống rau, hoa tại Đà Lạt là có bản quyền cây giống, chủ yếu tập trung ở khối doanh nghiệp. Nhiều nông dân có giống tốt để sản xuất sau đó cấy mô nhân ra nhưng giống nhập về qua những kênh không chính thức, không có bản quyền nên giống cho hoa thương phẩm chủ yếu tiêu thụ trong nước. Theo ông Sơn, Đà Lạt cần phải có trung tâm nông nghiệp công nghệ cao, tập hợp được những chuyên gia ở lĩnh vực sinh học để nghiên cứu riêng về rau, hoa công nghệ cao phục vụ Đà Lạt và hướng ra các địa phương khác. Việc này sẽ giải quyết được vấn đề giống và kỹ thuật cho nông nghiệp công nghệ cao Đà Lạt.
MAI VINH
Ông Zafrir Asaf (trưởng phòng kinh tế và thương mại, Đại sứ quán Israel):
Công nghệ quyết định đến hiệu quả nông nghiệp
Tiềm năng về phát triển nông nghiệp ở VN là rất lớn. Tuy nhiên, muốn thành công trong phát triển nông nghiệp, trước tiên nông dân VN phải thay đổi cách suy nghĩ. Làm nông nghiệp hiện nay không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm truyền thống, mà phải dựa rất nhiều vào công nghệ, vào kiến thức của khoa học, nghiên cứu nhu cầu của thị trường, người tiêu dùng… Có như vậy các sản phẩm đưa ra mới đáp ứng được nhu cầu cao của các thị trường tiêu dùng khó tính, những thị trường nhập khẩu tiềm năng sẵn sàng chi trả cao.
Thực tế nếu anh không làm, người khác sẽ làm và một ngày nào đó họ có thể sẽ thành công hơn và anh sẽ tụt lại phía sau. Đó cũng là nguyên lý cạnh tranh toàn cầu mà nông dân VN không có nhiều lựa chọn, họ phải cạnh tranh. Tôi cho rằng cần phải đầu tư nhiều hơn nữa cho giáo dục và nâng cao trình độ hiểu biết của người nông dân. Có kiến thức, có hiểu biết họ mới có cơ hội tiếp cận các thông tin thị trường, công nghệ, lắng nghe, kiểm chứng…, từ đó họ sẽ ngày càng có nhiều kỹ năng và tự tin hơn vào quyết định của mình.
Tiền chỉ là một yếu tố để có thể tiến hành nông nghiệp công nghệ cao, còn sản xuất nông nghiệp là cả một quá trình. Công nghệ thì ở khắp nơi và ngày càng thay đổi, nếu chờ thì người nông dân sẽ mãi tụt lại phía sau. Cũng xin nói thêm, tại Israel, trong năm nhà (nhà nước – nhà khoa học – nhà doanh nghiệp – nhà tư vấn – nhà nông) thì nhà tư vấn có vai trò tương đối quan trọng. Họ là các công ty tư vấn dịch vụ cung cấp đa dạng các dịch vụ: gieo trồng cái gì, nuôi con gì, bán cho ai, bán trên thị trường nào, bán thế nào… Nếu thấy nhu cầu thị trường, giá cả sản phẩm không thuận lợi vào thời điểm đầu tư, họ sẽ khuyến cáo nông dân chuyển sang loại nông phẩm khác phù hợp, đáp ứng nhu cầu thị trường và giá cả tốt hơn. Dường như ở VN còn thiếu cơ quan này.
LÊ NAM thực hiện

Thưa quý bà con, đây là một câu hỏi hay và nhiều bà con cần quan tâm trước khi đầu tư một hệ thống tưới tự động trong nông nghiệp.
Các vấn đề cần lưu tâm trước khi đầu tư một hệ thống tưới bao gồm:
1. Lựa chọn hình thức tưới: tưới nhỏ giọt hay tưới phun mưa. Phụ thuộc vào đặc điểm cây trồng, nguồn nước, kinh phí…
2. Xác định nhu cầu tưới của loại cây trồng: độ đồng đều của nước có ảnh hưởng nhiều hay ít đến sự phát triển của cây trồng; vấn đề cỡ hạt nước có ảnh hưởng gì đến cây trồng…
3. Lựa chọn đơn vị tư vấn, cung cấp thiết bị. Nhiều bà con tự mua thiết bị ngoài chợ rồi về tự lắp đặt nhưng cho kết quả không như mong đợi vì làm các thiết bị hoặc là kém chất lượng, hoặc là không có tư vấn chính xác khiến hệ thống không phát huy hết tác dụng.
4. Yêu cầu nhà tư vấn cung cấp các thông tin liên quan: lựa chọn phương pháp lắp đặt, thiết kế hệ thống tưới, tính toán công suất máy bơm, tính toán cỡ đường ống nước; xác định chi phí cần đầu tư (gồm chi phí thiết bị đường ống, thiết bị tưới, chi phí lắp đặt)…
5. Xác định các thông số đầu ra trước khi đầu tư – lắp đặt: các thông số đầu ra như tính toán độ đồng đều của hệ thống tưới, độ đồng đều càng cao càng tốt; tính toán lưu lượng và thời gian tưới; tính toán chi phí tưới (chi phí tưới cho mỗi hecta một năm, một tháng…)
6. Các lưu ý khác: như tuổi thọ của hệ thống, các vấn đề gặp phải trong quá trình vận hành như tắc nghẹt, hỏng hóc, các tài liệu tham khảo và chế độ bảo hành…
Kính chúc bà con có được hệ thống tưới tự động ưng ý nhất.
Xin cảm ơn.
Q&A. 5: Nên chọn hình thức tưới phun mưa hay tưới nhỏ giọt
Đây là câu hỏi chúng tôi nhận được khá nhiều từ bà con nông dân. Chúng tôi xin trả lời như sau:
Để chọn được phương pháp tưới tự động, trước hết phải căn cứ vào đặc điểm, yêu cầu tưới của từng loại cây trồng; căn cứ vào tình hình thực tế về nguồn nước; Yếu tố chi phí đầu tư; Yếu tố kỹ thuật & quản lý hệ thống tưới; Các đặc thù khác…
Tưới phun mưa phủ đều toàn phần
Tưới phun mưa nước phủ đều
Tưới nhỏ giọt
Tưới nhỏ giọt nước tập trung 1 chỗ
A). Đối với đặc điểm từng loại cây trồng
Trên thực tế, bà con đều biết, tất cả các loại cây trồng đều cần tưới nước, và hãy tưởng tượng đang nắng hạn mà gặp cơn mưa thì coi như đó là có lộc trời cho. Khi cây cối đang khát nước, độ ẩm giảm xuống 50-60% vào mùa khô, khi chúng đang phải co mình đề chống chọi với nhiệt độ lên tới 35-400C… đêm hôm đó ông trời cho chúng ta một cơn mưa, sáng hôm sau chúng ta sẽ thấy mùa màng như đã lột xác, xanh tươi, hoa chồi đua nhau phát triển….
Về cơ bản cây trồng ngoài cần lượng nước đầy đủ cấp cho hệ thống rễ để nuôi cây, thì yếu tố quan trọng nữa là một lượng nước cấp lên trên bề mặt lá, hoa, trái giúp cây quang hợp tốt hơn, và hơn nữa, cây trồng phát triển rất tốt nếu có một vùng khí hậu lý tưởng về nhiệt độ, độ ẩm….
Lấy ví dụ với tưới cho cây tiêu: Cây tiêu ngoài hệ thống rễ dưới lòng đất, còn có hệ thống rễ chằng chịt bám trên trụ tiêu, và hệ thống lá to bản… đơn giản chúng ta đều biết cây hồ tiêu nên áp dụng tưới nhỏ giọt hay phun mưa…
Tuy nhiên, cũng có những loại cây trồng thích hợp với phương pháp tưới nhỏ giọt như hoa trồng trong chậu, một số loại cây dây leo trồng trong nhà lưới nhà kính như dưa, bí, hoặc một số loại cây trồng có thân cao mà hệ thống tưới phun mưa khó áp dụng như tưới cây cao su trưởng thành…
B). Căn cứ vào nguồn nước
Về cơ bản, cả hai phương pháp tưới phun mưa và nhỏ giọt đều giúp nhà đầu tư tiết kiệm đáng kể nguồn nước bởi cả hai phương pháp này đều xác định được lưu lượng tưới, thời gian tưới vừa đủ cho cây trồng.
Tuy nhiên, trong những trường hợp nguồn nước rất khan hiếm, người sử dụng sẽ phải tính toán để cắt giảm một phần nhu cầu của cây trồng. Cụ thể cây trồng cần có nước tiếp cho bộ rễ; tưới lên lá, trái; và tưới làm mát môi trường xung quanh. Vậy trong trường hợp nguồn nước rất khan hiếm thì ưu tiên số một là cấp nước cho bộ rễ, khi đó hệ thống tưới nhỏ giọt cần được ưu tiên.
Để tiết kiệm nước, điện, trước khi đầu tư dự án, chúng ta cần xác định chính xác nhu cầu lưu lượng 1 lần tưới là bao nhiêu (tính theo mm/giờ, hoặc m3/giờ/ha), chu kỳ tưới là bao nhiêu ngày 1 lần, từ đó yêu cầu đơn vị tư vấn, cung cấp thiết bị đưa ra các chỉ số đầu ra của hệ thống tưới và xác định thời gian, lưu lượng tưới tối ưu.
C). Căn cứ vào khả năng đầu tư
Hệ thống tưới phun mưa thường gồm bộ cấp nước (máy bơm), hệ thống ống dẫn, và đầu béc tưới. Nước được phân phối đồng đều – thường là trên 85% đến ~100% trên mọi vị trí của diện tích tưới. Chi phí không phụ thuộc vào khoảng cách giữa các cây, số gốc cây trên 1 đơn vị diện tích và thường ổn định cho mọi loại cây trồng (thường dao động khoảng 30-40tri/ha đối với cây công nghiệp, và 50-70tri/ha đối với rau, hoa trong nhà lưới, nhà kính – số tham khảo, tổng hợp)
Đối với hệ thống tưới nhỏ giọt, hệ thống thường gồm bộ cấp nước, hệ thống lọc, đường dây mềm dẫn nước, và các đầu tưới nhỏ giọt. Chi phí của hệ thống tưới nhỏ giọt phụ thuộc rất nhiều vào số lượng cây trồng trên 1 đơn vị diện tích. Khi cây trồng càng dày, chi phí càng lớn. Một số dự án trồng mía trước đây sử dụng biện pháp tưới nhỏ giọt và chi phí đầu tư lên tới 100tri/ha; ngược lại nếu tưới cao su với khoảng cách khoảng 7m x 7m (hàng cách hàng 7m, cây cách cây 7m) thì chi phí chỉ khoảng 20tri/ha.
Một yếu tố nữa cần xem xét trong vấn đề đầu tư, tưới phun mưa thường hệ thống bền lên tới 10 năm – 20 năm, trong khi đó tuổi thọ của hệ thống tưới nhỏ giọt chỉ khoảng 2-5 năm. Do đó, chu kỳ đầu tư của hệ thống tưới nhỏ giọt cao gấp 4-5 lần so với tưới phun mưa. Chúng ta nên tính toán tổng đầu tư cho 1 đơn vị diện tích, trong 1 thời gian 10-20 năm.
STT Nội dung Đầu tư ban đầu 3 năm đầu 6 năm 9 năm Chi phí sau 10 năm
1 Tưới nhỏ giọt 40tri/ha – 40tri 40tri 120tri
2 Tưới phun mưa 40tri/ha – – – 40tri
Giả sử chi phí đầu tư ban đầu ngang nhau
Không tính đến chi phí vận hành
Độ bền tưới nhỏ giọt là 3 năm
Độ bền tưới phun mưa là 10 năm
Vậy sau 10 năm, tổng chi phí đầu tư cho 1ha theo phương pháp nhỏ giọt là 120 triệu, theo phương pháp tưới phun mưa là 40 triệu
D). Căn cứ vào yếu tố kỹ thuật, trình độ quản lý hệ thống tưới.
Bởi tính chất hai phương pháp khác nhau, trong khi hệ thống tưới nhỏ giọt cần phải dùng hệ thống lọc nước, đảm bảo nước không có cặn, không có hạt phù sa… thì tưới phun mưa với các đầu tưới lớn nên phù hợp với mọi nguồn nước.
Vì các đầu tưới nhỏ giọt rất nhỏ nên dễ dẫn đến tình trạng tắc nghẽn, bên cạnh đó hệ thống đường ống mềm dễ bị tác động hư hỏng bởi yếu tố ngoại cảnh làm cỏ làm đứt dây, bị hư hỏng do quá trình canh tác hay do côn trùng gặp nhấm… do đó với những dự án tưới quy mô lớn cần một lượng lao động thường xuyên đi kiểm tra.
Trong khi đó tưới phun mưa thường ít gặp trở ngại, hư hỏng, sửa chữa hơn trong quá trình vận hành, quản lý.
E). Một số loại cây trồng đặc thù
Đối với một số cây trồng, và quy mô đặc thù, ví dụ bà con trồng mía, mì… vì đây là những loại cây trồng có giá trị kinh tế không cao, cánh đồng thường rộng lớn, xa nhà, thường không có nguồn điện nên thường bà con không đủ khả năng cho cả hai phương pháp tưới trên.
Với chi phí 30tri/ha cho tưới phun mưa, 70-100tri/ha tưới nhỏ giọt thì bà con không thể đầu tư.
Trên thực tế, phương pháp tưới phun mưa di động đang được áp dùng và giải quyết được nhiều vấn đề: cây trồng có tưới, chi phí đầu tư rất thấp (chỉ khoảng 5-7tri/ha), kết hợp giữa thủ công và tự động nên không bị dư thừa lao động tại địa phương…
Chọn cỡ ống phù hợp có ý nghĩa rất lớn cả về mặt kỹ thuật và kinh tế. Vậy, thế nào là một cỡ ống tối ưu.
Tôi lấy giả sử, một máy bơm đẩy được khoảng 20m3/giờ. Vậy nên chọn cỡ ống 34mm, hay cỡ 90mm, nếu ống 34 thì sao, và ngược lại ống 90mm thì sao. Trước hết chúng ta hãy hình dung, giống như tương quan giữa số lượng phương tiện giao thông và độ rộng của con đường. Giả sử có khoảng 100,000 lượt phương tiện lưu thông trên 1km mỗi giờ, nếu lòng đường 4m, chắc chắn ùn tắc sẽ diễn ra, và ngược lại, cũng với lượng xe trên, lưu thông trên đường 10 làn, mỗi làn 4m thì chắc chắn sẽ không có ùn tắc nhưng rõ ràng chi phí đầu tư 10 làn x 4m mỗi làn sẽ rất lớn.
Về lý thuyết, và cả trên thực tế, cỡ ống nước, chiều dài đường ống, lưu lượng, và tổn thất áp có quan hệ tỉ lệ với nhau. Tôi giả sử trên cùng một chất liệu đường ống là nhựa PVC chẳng hạn.
Cỡ ống càng lớn ==>> tổn thất áp suất càng ít.
Chiều dài càng lớn ==>> tổn thất càng lớn.
Lưu lượng càng lớn ==>> tổn thất áp càng lớn.
Vậy, rõ ràng cỡ ống ảnh hưởng trực tiếp tới tổn thất áp suất, và trong trường hợp đại lượng chiều dài ống, lưu lượng nước không đổi, thì cỡ ống càng lớn, tổn thất áp suất sẽ càng nhỏ, ngược lại, cỡ ống càng nhỏ, tổn thất càng lớn. Vấn đề ở đây, chúng ta phải chọn ra được cỡ ống cho là tối ưu. Và cỡ này cân đối được giữa tỉ lệ mất áp cũng như chi phí đầu tư.
Theo tính toán, với giả thuyết trên, 20m3/giờ, cỡ ống được khuyến khích lựa chọn là 68mm. Vậy ta có thể lựa chọn cỡ ống ngoài thực tế là 60mm hoặc 90mm (vì thực tế không có cỡ 68mm).
Lưu ý: theo công thức thì các chỉ số đều là đường kính trong của ống nhưng thực tế, các hãng công bố đường kính lại lấy chỉ số đường kính ngoài.
Nhưng vì độ dày thành ống không quá lớn nên ta vẫn có thể cân nhắc chọn cỡ ống là tiệm cận trên, hoặc dưới với cỡ ống tối ưu. Để chọn cỡ ống tối ưu, các nhà kỹ thuật thường sử dụng phần mềm chuyên dụng để tính toán. Nhà bè agri cũng sử dụng bộ phần mềm của Washington State University.
Dưới đây là bảng tra cỡ ống tối ưu và gợi ý lựa chọn căn cứ vào lưu lượng nước của hệ thống tưới. Bà con có thể tham khảo thêm trong trường hợp cần thiết bằng cách liên hệ với bộ phận kỹ thuật Nhà Bè Agri theo đường dây 0123 9 23 08 79.
Lưu lượng Lưu lượng Cỡ ống tối ưu* Tổn áp trên 100m Tiệm cận trên Tổn áp trên 100m Tiệm cận dưới Tổn áp trên 100m
(m3/h) (l/giây) mm bar mm bar mm bar
5 1.389 34 1.31 – – – –
10 2.778 49 0.72 – – – –
15 4.167 60 0.48 – – – –
20 5.556 68 0.32 60 0.82 90 0.11
25 6.944 76 0.28 60 1.24 90 0.17
30 8.333 83 0.31 60 1.74 90 0.24
35 9.722 90 0.23 – – – –
40 11.111 96 0.21 90 0.41 114 0.13
45 12.500 102 0.20 90 0.51 114 0.16
50 13.889 108 0.18 90 0.62 114 0.20
Căn cứ vào bảng trên, bà con có thể tính toán tương đối chính xác tổn thất trên toàn hệ ống của mình dựa vào lưu lượng, cỡ ống và độ dài. Lưu ý, chọn cỡ quá lớn dẫn đến tình trạng lãng phí trong đầu tư ban đầu. Ngược lại đầu tư cỡ ống quá nhỏ dẫn đến mất áp lớn, và ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của hệ thống tưới tự động, đồng thời sẽ làm tăng chi phí hoạt động của hệ thống, đặc biệt chi phí năng lượng. Trong một số trường hợp phải lựa chọn giữa tiệm cận trên và dưới, bà con có thể cân nhắc chọn cỡ ống tô đỏ.
Bà con tham khảo thêm bài viết Lựa chọn đường ống cho hệ thống tưới

Thưa quý bà con, đây là một câu hỏi hay và nhiều bà con cần quan tâm trước khi đầu tư một hệ thống tưới tự động trong nông nghiệp.
Các vấn đề cần lưu tâm trước khi đầu tư một hệ thống tưới bao gồm:
Kính chúc bà con có được hệ thống tưới tự động ưng ý nhất.
Xin cảm ơn.
Theo Viện Khoa học kỹ thuật nông-lâm nghiệp Tây Nguyên, mùa mưa của các tỉnh Tây Nguyên bắt đầu từ tháng 5 và kéo dài đến tháng 10.
Dựa vào các kết quả nghiên cứu, Viện khuyến cáo đến các nông hộ và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cà phê ở Tây Nguyên bón phân cho cây cà phê, nhất là cây cà phê đã đưa vào kinh doanh cho thu hoạch phải kịp thời, đúng cách, đủ hàm lượng, đúng thời điểm.

Viện cũng khuyến cáo các nông hộ, các doanh nghiệp sử dụng các loại phân bón chuyên dụng nuôi trái cà phê để bón nhằm kích thích trái phát triển đều, chín tập trung vào cuối vụ, đồng thời tăng cường bón thêm phân hữu cơ, phân chuồng ủ hoai mục để vườn cây cho năng suất cao, ổn định.
Tưới tự động luôn được coi là việc đầu tư đầy tốn kém, và rất nhiều bà con cho rằng không thể áp dụng được với một số loại cây trồng, đó thường là những cây trồng có giá trị kinh tế không cao, diện tích tưới rộng, và thường được canh tác trên những vùng đất khô cằn không còn lựa chọn khác cho cây trồng tốt hơn. Có thể kể đến như cây mía, cây mì (cây sắn).
Tuy nhiên, rõ ràng, bất kỳ loại cây trồng nào cũng cần được tưới. Việc tưới luôn là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với mọi cây trồng. Trong suốt một thời gian dài cây mía hầu hết chỉ nhận được những giọt mua hiếm hoi từ tự nhiên mà thiếu đi sự chăm sóc, đầu tư tưới theo đúng nhu cầu của nó từ con người.
Vậy, giải pháp tưới nào nên được áp dụng cho cây mía, cây mì?! Với nhỏ giọt, chi phí mỗi ha có thể lên tới 70-80 triệu; với tưới bằng ống phún (tưới laze) mỗi héc ta bà con phải di chuyển tới 25 lần, cộng với đó là ống thường xuyên bị bể – vỡ, và chịu sự tác động rất lớn bởi gió…
Trải nghiệm rất nhiều phương pháp tưới từ tưới bằng hệ thống xe Pivot, tưới bằng xe tự cuốn, tưới nhỏ giọt, tưới ống phún, tưới béc đập Việt Nam, và cuối cùng Ông Nguyễn Trọng Hòa – Giám đốc Nông trường Mía Thành Long cho rằng phương án tưới di động bằng béc tưới tự động Nelson R33 là rất hiệu quả và cần được đầu tư nhân rộng.
Phương pháp hiệu quả hơn các phương pháp khác là bởi (1) khả năng di chuyển rất thuận tiện (có thể cuộn cả hệ thống ống mềm và di chuyển); (2) chi phí đầu tư rất thấp (bình quân 5 triệu/ha nếu mỗi hộ có vài ba héc ta); (3) số lần di chuyển rất ít (ít hơn nhiều so với các phương pháp tưới di chuyển khác – chỉ 5 đến 7 lần di chuyển cho 1 ha); (4) có thể nâng chiều cao của hệ thống tùy chiều cao của cây mía, cây mì; (5) chịu được ở những vùng có gió lớn; (6) Là phương pháp tưới phun mưa rất phù hợp với yêu cầu của cây trồng… Điều đó giúp bà con đảm bảo tiết kiệm được chi phí đầu tư, chi phí và nhân công vận hành, tiện lợi và phù hợp với mọi bà con, mọi diện tích, nâng cao năng suất.
Hiện mô hình tưới tự động này đang được áp dụng tại Nông trường Mía đường Thành Long (100ha), nông trường mía đường Hưng Thịnh (20ha), nông trường mía đường Ninh Hòa (100ha)…
Để hiểu hơn về mô hình tưới di động, kính mời bà con tham khảo tài liệu theo các đường link sau:
Mô hình tưới di động chi phí thấp cho cây mía, mì…
Báo cáo kết quả cơ giới hóa và tưới tự động tại Nông trường Thành Long
Lựa chọn hình thức, thiết bị phù hợp cho tưới mía tự động, chi phí thấp
Cải tiến phương pháp tưới di động tại các nông trường trồng mía
Hoặc liên hệ với Nhà bè Agri để được hướng dẫn, tư vấn ứng dụng. Hotline 0123 23 08 79